phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm: 04 chương, 12 tiết. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LỢI ÍCH, LỢI ÍCH CÁ NHÂN, LỢI ÍCH XÃ HỘI, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI VIỆC GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI 1. Những công trình nghiên cứu về phạm trù lợi ích Xung quanh phạm trù lợi ích nói chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến các khía cạnh rất đa dạng của lợi ích như: khái niệm, bản chất, vai trò, phân loại lợi ích.
Về khái niệm, bản chất lợi ích Năm 1997, trong cuốn sách Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội [123] tác giả Lê Hữu Tầng đã chỉ ra bản chất và nội dung của lợi ích, đó là: “xét về bản chất, lợi ích chính là một quan hệ - quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài chủ thể với nhu cầu của chủ thể, còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu” [123, tr. Các tác giả cũng phân tích mối quan hệ biện chứng giữa một số loại lợi ích, như lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; lợi ích riêng và lợi ích chung; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Đây là một công trình tham khảo tốt cho chúng tôi khi phân tích những vấn đề lý luận về lợi ích và vai trò của lợi ích đối với sự phát triển. Tác giả Nguyễn Linh Khiếu trong cuốn sách Lợi ích - động lực của sự phát triển xã hội [75], năm 1999, đã lược khảo những quan điểm của các nhà khoa học Liên Xô trước đây đã đề cập đến vấn đề lợi ích.
Tác giả Nguyễn Linh Khiếu đã phân tích những quan điểm về lợi ích của các tác giả như: K. Trên cơ sở lược khảo các quan điểm của các nhà nghiên cứu Liên Xô và các nhà nghiên cứu trong nước, tác giả đã đưa ra khái niệm “lợi ích là một sự vật hay một hiện tượng khách quan biểu hiện những mối quan hệ tất yếu của con người và dùng để thỏa mãn những nhu cầu cấp bách của họ trong một hoàn cảnh sinh sống nhất định” [75, tr. Đây là tài liệu tham khảo tốt cho chúng tôi để khảo cứu lịch s nghiên cứu vấn đề lợi ích, nhất là ở Liên Xô trước đây. 7 Năm 2005, tác giả Lê Thị Kim Chi trong cuốn sách Nhu cầu: động lực và định hướng xã hội [15] đã có những phân tích cụ thể về mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, theo đó, tác giả khẳng định: “Lợi ích xuất hiện trong quan hệ giữa nhu cầu của con người với môi trường xung quanh; lợi ích thể hiện mối quan hệ xã hội giữa con người với con người nhằm thỏa mãn nhu cầu; lợi ích là cái trung gian giữa nhu cầu và hoạt động của con người, là động lực thúc đẩy hoạt động của con người và của xã hội” [15, tr.
Những phân tích của tác giả về quan hệ nhu cầu và lợi ích đã gợi mở cho chúng tôi nghiên cứu sâu thêm về vấn đề lợi ích trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Năm 2010, trong công trình Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [36], tác giả Đặng Quang Định trên cơ sở tiếp cận lợi ích từ nhu cầu, đã nêu rõ định nghĩa về lợi ích: “lợi ích là cái phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội (cá nhân, tập đoàn, giai cấp, tầng lớp.) trong những điều kiện lịch s - xã hội nhất định” [36, tr. Từ đó, tác giả khẳng định: “về bản chất, lợi ích là cái phản ánh quan hệ của các chủ thể nhu cầu, còn nội dung là để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể ấy” [36, tr. Chúng tôi đồng ý với quan điểm này và coi đây là tài liệu tham khảo rất có ý nghĩa.
Năm 2012, cũng trên cơ sở tiếp cận lợi ích từ nhu cầu, song đề cập đến khía cạnh động lực của lợi ích đối với con người, tác giả Lê Văn B u, trong công trình Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay [9] đã nêu: “Lợi ích là sự thể hiện mâu thuẫn khách quan giữa nhu cầu và điều kiện để thỏa mãn nhu cầu. Trong khi thể hiện mâu thuẫn nói trên, lợi ích kích thích tính tích cực, sáng tạo của con người và “thúc ép” con người phải hành động, đấu tranh vì lợi ích của mình” [9, tr. Đây là quan điểm mà chúng tôi cũng đã có sự tham khảo trong quá trình nghiên cứu về lợi ích. Như vậy, vấn đề khái niệm, bản chất của lợi ích cũng đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu trong những giai đoạn lịch s khác nhau, song có thể thấy, cơ bản đều thống nhất quan hệ lợi ích là khách quan, là cái phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội và về bản chất, lợi ích là cái phản ánh quan hệ của các chủ thể nhu cầu, còn nội dung là 8 để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể ấy.
Đây là những công trình có giá trị tham khảo tốt cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu. Về vai trò của lợi ích Nhìn chung, qua khảo cứu các công trình, đa số các tác giả đều chỉ ra tính tích cực của lợi ích trong hoạt động của con người.Ănghen, lợi ích chính là động lực sâu xa nhất thúc đẩy con người hành động và mọi hành động của con người đều có động cơ nhất định. Và kết quả ra sao phụ thuộc vào việc nhận thức và hành động thực tiễn của họ về lợi ích. Năm 1997, đi vào nghiên cứu vai trò lợi ích đối với sự phát triển xã hội, trong công trình Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, [123] các tác giả đã chỉ ra vai trò của lợi ích trong sự phát triển xã hội “Nếu lợi ích đúng là khâu trung gian chuyển hóa những yêu cầu khách quan bên ngoài thành những động cơ tư tưởng bên trong thúc đẩy con người ta hành động, thì có thể nói, đó chính là khâu cần được đặc biệt quan tâm trong sợi dây chuyền dẫn tới chỗ khơi dậy và nuôi dưỡng tính tích cực của con người và thông qua tính tích cực ấy mà thúc đẩy quá trình phát triển xã hội” [123, tr.
Việc phân tích lợi ích với vai trò là một trong những động lực của sự phát triển, cùng với những động lực khác được đề cập trong công trình này là những gợi mở tốt cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu. Năm 2008, trong bài viết Quan điểm của Triết học Mác về lợi ích với tư cách động lực của lịch sử [34] tác giả Đặng Quang Định đã khẳng định vai trò của lợi ích trong sự phát triển xã hội: “việc nhận thức quan hệ xã hội mà thiếu lợi ích thì về cơ bản, nhận thức đó vẫn chỉ mang tính trừu tượng. Khi nói về vai trò của lợi ích, triết học Mác cho rằng, lợi ích là cái liên kết các thành viên trong xã hội, nó được đặt trong quan hệ giữa con người với nhau làm cơ sở cho việc xác lập các quan hệ giữa họ” và “Lợi ích thúc đẩy đời sống các dân tộc” [34, tr. Mặc dù dừng lại ở góc độ là một bài viết, song đây là công trình có nhiều gợi mở, tạo tiền đề cho chúng tôi nghiên cứu các vấn đề lý luận về vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội.
Năm 2011, trong công trình Lợi ích - động lực của sự phát triển bền vững [84] tác giả Hoàng Văn Luân đã khẳng định: Mâu thuẫn lợi ích và giải quyết mâu thuẫn lợi ích là động lực phát triển xã hội [84, tr. Trên cơ sở đó tác giả nêu ra 9 những định hướng quan hệ lợi ích vì sự phát triển xã hội, trong đó nêu khá cụ thể các nguyên tắc và biện pháp điều chỉnh cũng như điều chỉnh một số quan hệ lợi ích cơ bản của xã hội, đặc biệt nhấn mạnh đến việc điều chỉnh chính sách kinh tế. Đây là công trình có nhiều giá trị đối với chúng tôi trong việc phân tích về lợi ích, cũng như có những gợi mở để nghiên cứu về việc giải quyết các lợi ích. Về phân loại lợi ích Các công trình về lợi ích nêu trên đều đã đề cập về phân loại lợi ích theo nhiều cách tiếp cận, nhiều tiêu chí khác nhau.
Tuy nhiên, ở góc độ khái quát, theo tác giả Đặng Quang Định trong công trình Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [Theo 36], đã phân tích cách phân loại lợi ích của các học giả Liên Xô được đề cập trong “Bách khoa toàn thư Liên Xô”, viết năm 1972, trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí nhất định, lợi ích phân loại như sau: dựa vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, chia thành lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị; dựa vào phạm vi cộng đồng, chia thành LICN, lợi ích giai cấp, lợi ích tập thể, LIXH; dựa vào xu hướng khách quan của sự phát triển xã hội, chia thành lợi ích tiến bộ, lợi ích bảo thủ;… Ngoài ra, lợi ích còn có thể phân loại dựa trên một số căn cứ sau: dựa vào thời gian tồn tại của lợi ích, chia thành lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; dựa vào tầm quan trọng của lợi ích, chia thành lợi ích căn bản và lợi ích không căn bản, lợi ích cấp bách và lợi ích không cấp bách; dựa vào tính chất và các biện pháp thực hiện lợi ích, chia thành lợi ích chính đáng và lợi ích không chính đáng. Đây là cách tiếp cận để phân loại lợi ích khá toàn diện, vì vậy, công trình này là tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi trong việc phân loại lợi ích. Những công trình nghiên cứu về khái niệm lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế Năm 2012, trong công trình Vai trò của lợi ích đối với sự phát triển của xã hội [40], tác giả Đặng Quang Định đã đề cập đến khái niệm LICN, LIXH và lợi ích kinh tế.