Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế quốc tế của nghiên cứu sinh Trần Thị Quỳnh Hoa, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Từ Thúy Anh tại Trường Đại học Ngoại thương, mang tên: "Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam".

1. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008 cùng các biến động địa chính trị, biến đổi khí hậu và dịch bệnh, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang nền kinh tế xanh đã trở thành xu thế tất yếu tại các quốc gia phát triển và đang phát triển. Tại Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người duy trì ở mức 5,5%/năm kể từ năm 1990, tỷ lệ nghèo cùng cực (dưới 1,9 USD/ngày) giảm xuống dưới 3%, các chỉ số phát triển xã hội được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng vẫn phụ thuộc lớn vào khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều lao động và vốn, dẫn đến hiệu quả sử dụng năng lượng thấp, gia tăng ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí và tăng lượng phát thải khí nhà kính trên một đơn vị GDP.

Để hiện thực hóa "Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2050", Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và cam kết quốc tế về việc giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 bằng nguồn lực trong nước (có thể tăng lên 25% khi có hỗ trợ quốc tế), chính sách tài chính được xác định là công cụ kinh tế trọng yếu. Mặc dù Việt Nam đã bước đầu ban hành các quy định tài chính phục vụ bảo vệ môi trường, hệ thống chính sách hiện hành vẫn bộc lộ hạn chế: mức thuế suất và phí đánh vào các hoạt động gây ô nhiễm chưa tương xứng, chế tài xử phạt chưa đủ mạnh, danh mục chịu thuế bảo vệ môi trường còn thiếu sót và nguồn lực chi ngân sách còn phân tán. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực trạng chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định bao gồm:

  • Về mặt lý luận: Các công trình trước đây chưa đi sâu phân tích có hệ thống cấu trúc nội dung và đo lường mức độ tác động của từng công cụ trong chính sách tài chính (thuế, chi ngân sách, tín dụng xanh, trái phiếu xanh, cơ chế định giá các-bon) đến nền kinh tế xanh.
  • Về mặt thực tiễn: Các nghiên cứu tại Việt Nam phần lớn chỉ tiếp cận riêng lẻ chính sách thuế đối với môi trường hoặc đánh giá tác động của thuế đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nói chung mà chưa gắn liền với khung khổ toàn diện của nền kinh tế xanh; đồng thời thiếu các mô hình lượng hóa cụ thể tác động của chính sách thuế bảo vệ môi trường đến phát thải khí nhà kính.

2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là tổng hợp cơ sở lý luận, khảo cứu kinh nghiệm quốc tế, phân tích thực trạng và lượng hóa tác động của chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh tại Việt Nam, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính đến năm 2030.

Luận án xác định 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Chính sách tài chính có vai trò như thế nào đối với nền kinh tế xanh?
  2. Chính sách tài chính ở các quốc gia trên thế giới có những nội dung gì nhằm hướng tới nền kinh tế xanh và Việt Nam có thể học tập được gì?
  3. Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh của Việt Nam đã đạt được những kết quả gì? Những nội dung nào cần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện?
  4. Giải pháp để hoàn thiện chính sách tài chính ở Việt Nam nhằm hướng tới nền kinh tế xanh?

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba nhóm chính sách tài chính cốt lõi:
    • Chính sách thu: Tập trung vào 4 sắc thuế có tác động lớn nhất gồm thuế Tài nguyên, thuế Bảo vệ môi trường (BVMT), thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN - trọng tâm là ưu đãi thuế) và thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB).
    • Chính sách chi: Chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho sự nghiệp bảo vệ môi trường và đầu tư công xanh.
    • Chính sách tài chính khác: Tín dụng xanh, trái phiếu xanh và thị trường giao dịch tín chỉ các-bon.
    • Đánh giá định lượng: Do giới hạn số liệu, phân tích định lượng tập trung ước lượng tác động của thuế BVMT đến khía cạnh môi trường thông qua lượng phát thải khí $\text{CO}_2$.
  • Phạm vi không gian: Thực trạng tại Việt Nam; nghiên cứu so sánh kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc (các quốc gia có điều kiện phát triển và văn hóa tương đồng), bổ sung kinh nghiệm phát hành trái phiếu xanh của Ấn Độ và hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải của Liên minh Châu Âu (EU).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu đánh giá thực trạng giai đoạn 1986–2020; các giải pháp và đề xuất chính sách định hướng đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp khối lượng tài liệu học thuật trong nước và quốc tế theo các nhóm công cụ tài chính:

1. Các nghiên cứu quốc tế

  • Tổng quan về kinh tế xanh và chính sách tài chính: OECD (2017) chỉ ra hoạt động xanh hóa nền kinh tế bao trùm đòi hỏi hệ thống chỉ số đa chiều; Withana (2013) phân tích các rào cản chính trị, tính minh bạch và năng lực kỹ thuật khi thực thi chính sách tài chính xanh.
  • Chính sách thu xanh: Mooij và cộng sự (2012) cùng World Bank (2019) khẳng định thuế môi trường là công cụ hiệu quả và tiết kiệm chi phí nhất để giảm phát thải $\text{CO}_2$. Fay và cộng sự (2015) nhận định thuế xanh có cơ sở thuế ổn định nên giảm thiểu nguy cơ trốn thuế. Reyer Gerlagh và Bob van der Zwaan (2006) so sánh chi phí - hiệu quả: trợ cấp năng lượng tái tạo tốn kém nhất, tiêu chuẩn danh mục đầu tư phát thải thấp ít tốn kém nhất, thuế các-bon hiệu quả nhất; việc tái sử dụng nguồn thu thuế để hỗ trợ năng lượng tái tạo giúp giảm tới 40% chi phí ứng phó biến đổi khí hậu so với việc chỉ đánh thuế đơn thuần. Sebastian J. chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô thu thuế môi trường với mức phát thải $\text{CO}_2$ bình quân đầu người và bụi mịn. De Mooij (2012) làm rõ lợi ích kép (kinh tế, tài khóa, xã hội, khí hậu) từ thuế và định giá các-bon.
  • Chính sách chi tiêu công xanh: Barbier và Markandya (2013), Robins, Clover và Singh (2009) phân tích các gói chi tiêu xanh sau khủng hoảng 2008. Cottrel và Falcão (2018) chứng minh hiệu quả của cơ chế phân bổ nguồn thu thuế môi trường vào các quỹ chuyên biệt cho giao thông, năng lượng, nông nghiệp bền vững. Báo cáo RSWMOD (2012) nêu bài học Slovenia kết hợp ngân sách địa phương, vốn vay Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu Âu (EBRD) và viện trợ không hoàn lại từ Thụy Điển (SIDA), Pháp và EU để tối ưu hóa quản lý chất thải.
  • Chính sách tài chính phi ngân sách: Climate Bonds Initiative (2020) thống kê thị trường trái phiếu xanh toàn cầu đạt 257,7 tỷ USD (tăng trưởng bình quân 46%/năm giai đoạn 2017–2019). Wang và cộng sự (2019) chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý và thiếu hệ thống tiêu chí rủi ro môi trường trong quản lý tín dụng xanh tại Trung Quốc. Báo cáo CPLC (2016) dẫn chứng Thụy Điển áp dụng định giá các-bon thành công mà không làm suy giảm tăng trưởng GDP. Wien và Botang (2012), Lalon (2015), Ritu (2014) làm rõ cơ chế ngân hàng xanh thông qua điều tiết lãi suất vay ưu đãi cho công nghệ sạch. Merk và cộng sự (2012), Della Croce và Yermo (2013), Bhattacharya và Stern (2015), Barnes (2019) khẳng định vai trò của chứng khoán xanh và trái phiếu xanh trong việc thu hút dòng vốn dài hạn từ các quỹ hưu trí và quỹ đầu tư có chủ quyền.

2. Các nghiên cứu trong nước

  • Hà Huy Ngọc và Trần Ngọc Ngoạn (2013), Nguyễn Đức Cường (2012), Trần Thanh Lâm (2013) luận giải tính cấp thiết của quá trình chuyển dịch mô hình kinh tế xanh tại Việt Nam dựa trên tiềm năng năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối, thủy điện).
  • Về chính sách thu: Lê Thị Mai Liên (2017) ghi nhận kết quả ưu đãi thuế cho công nghệ sạch; Nguyễn Đình Chiến (2017) chỉ rõ những điểm chưa hiệu quả trong chính sách thuế TNDN, TTĐB và thuế BVMT; Nguyễn Thị Thanh Hoài (2014) đánh giá ba tác động tích cực của thuế môi trường tại Việt Nam (giải quyết ô nhiễm, nâng cao nhận thức xã hội, tăng nguồn thu NSNN).
  • Về chính sách chi: Lê Quang Thuận (2016), CIEM (2015), Lương Thu Thủy (2021) đánh giá việc bố trí ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường còn thiếu cơ chế điều phối thống nhất giữa các cơ quan quản lý.
  • Về công cụ thị trường: Trần Thị Xuân Anh và Trần Thị Thu Hương (2021), Phạm Xuân Hòe và cộng sự (2015) chỉ ra tín dụng xanh tại Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn tài trợ quốc tế và thiếu tiêu chí phân loại xanh chuẩn hóa; Phạm Tiến Đạt và Lê Minh Hương (2020), Trang Trần (2018) nêu bật khoảng trống pháp lý đối với việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp xanh và trái phiếu chính quyền địa phương xanh.

3. Vị trí học thuật của luận án

Kế thừa các công cụ và khung lý thuyết đã công bố, luận án định vị là công trình nghiên cứu tổng hợp toàn diện cả ba kênh chính sách tài chính (thu, chi, công cụ tài chính khác) gắn với ba trụ cột phát triển (kinh tế, môi trường, xã hội). Luận án bổ sung bằng chứng thực nghiệm thông qua kiểm định định lượng tác động của thuế BVMT đối với lượng phát thải $\text{CO}_2$ tại Việt Nam bằng phương pháp kinh tế lượng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm kinh tế xanh: Bắt nguồn từ công trình "Kế hoạch chi tiết cho nền kinh tế xanh" của David Pearce (1989), được UNEP (2011) định nghĩa là nền kinh tế phát thải các-bon thấp, sử dụng tài nguyên hiệu quả và bao trùm xã hội. Luận án tổng hợp các định nghĩa của Armand Kaszterlan (2017), Liên Hợp Quốc (2007, 2012) và làm rõ 3 đặc trưng cốt lõi: (i) Giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó biến đổi khí hậu (chọn $\text{CO}_2$ làm đại diện do chiếm hơn 80% tổng phát thải); (ii) Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên; (iii) Ứng dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường.
  • Mục tiêu kinh tế xanh: Đối chiếu 12/17 mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc liên quan trực tiếp đến kinh tế xanh (theo UN Statistical Commission, 2015).
  • Hệ thống chính sách kinh tế xanh: Sử dụng khung phân loại 9 công cụ chính sách theo các vấn đề thị trường của OECD (2011) và 6 nhóm chính sách chuyển đổi của UNDESA (2012c) (chính sách nội bộ hóa ngoại tác, khuyến khích, thể chế, đầu tư, thông tin và thị trường lao động/bảo trợ xã hội).
  • Chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh: Tiếp cận khái niệm theo OECD (2002), Giáo trình Chính sách Kinh tế - Xã hội (2012) và Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính (2016), bao gồm: tài chính công, tài chính doanh nghiệp, phát triển thị trường tài chính và tài chính dân cư. Các giác độ tác động được xem xét bao gồm:
    • Góc độ kinh tế: Định hướng phân bổ nguồn lực, chuyển dịch cơ cấu ngành sang hướng phát thải thấp, mở rộng tổng cầu thông qua chi tiêu công, kiến tạo nguồn thu bền vững cho NSNN.
    • Góc độ môi trường: Nội bộ hóa chi phí ngoại tác tiêu cực, giảm phát thải ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái.
    • Góc độ xã hội: Tái phân phối thu nhập, giảm nghèo, tạo việc làm xanh và cải thiện sức khỏe cộng đồng.
  • Lý thuyết nền tảng cho mô hình thực nghiệm: Giả thuyết Đường cong môi trường Kuznets (EKC) về mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược giữa tăng trưởng kinh tế và mức độ suy thoái môi trường/phát thải $\text{CO}_2$.

2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính:
    • Phân tích - tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa: Rà soát văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống hóa các chỉ tiêu và phân loại các công cụ tài chính theo nhóm mục tiêu.
    • Phương pháp khảo cứu kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu điển hình tại Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và EU.
    • Phương pháp nghiên cứu tình huống: Đánh giá trường hợp thực thi chính sách thuế BVMT tại Việt Nam.
  • Phương pháp định lượng:
    • Xây dựng mô hình kinh tế lượng: Dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế về các nhân tố ảnh hưởng tới phát thải khí nhà kính (bảng tổng hợp bên dưới), luận án thiết lập mô hình hồi quy tuyến tính dạng logarit tự nhiên:

$$\ln(\text{CO}_{2,i}) = \beta_0 + \beta_1 \text{CSTC}_i + \beta_2 X_i + \varepsilon_i$$

Trong đó: $\text{CO}_2$ là lượng phát thải khí $\text{CO}_2$ (biến phụ thuộc); $\text{CSTC}$ là biến chính sách tài chính (đại diện bằng thuế BVMT); $X_i$ là véc-tơ các biến kiểm soát gồm: Tổng sản phẩm quốc nội ($\text{GDP}$), mức tiêu thụ năng lượng ($\text{Energy}$), quy mô dân số ($\text{Population}$) và độ mở thương mại ($\text{Trade Openness}$); $\varepsilon_i$ là sai số ngẫu nhiên.

Tác giả Các nhân tố ảnh hưởng tới khí thải $\text{CO}_2$ được ghi nhận
Adedoyin (2020) Tiêu thụ năng lượng, GDP
Rahman (2020) GDP, độ mở thương mại (chứng minh giả thuyết EKC chữ U ngược)
Talbi (2017) Tăng trưởng kinh tế, quy mô dân số, năng lượng hóa thạch, năng lượng hạt nhân, năng lượng tái tạo, năng lượng lãng phí
Wang và Lin (2017) Đô thị hóa, cơ cấu năng lượng, GDP, cường độ năng lượng
Ab-Rahim và Xin-Di (2016) Tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng, độ mở thương mại
Keho (2016) Tỷ trọng các ngành công nghiệp/GDP, thu nhập bình quân đầu người, độ mở thương mại
Zakarya và cộng sự (2015) GDP, tiêu thụ năng lượng, FDI
Vera và Saumas (2015) Thuế BVMT, tiêu thụ năng lượng, GDP
Jeffrey và Perkins (2015) Thuế năng lượng, GDP (mô hình OLS cho 27 nước EU)
Cetin và Ecevit (2015) Tiêu thụ năng lượng, đô thị hóa
Lin và Li (2011) Thuế các-bon, tăng trưởng
Stolyarova (2009) GDP, tiêu thụ năng lượng
Engelman (1998), O’Neill (2000) Quy mô dân số, GDP
  • Kỹ thuật và công cụ xử lý: Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) trên phần mềm thống kê chuyên dụng STATA.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp chuỗi thời gian thu thập từ Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, Cổng thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nền kinh tế xanh và chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh

Chương 1 thiết lập khung cơ sở lý thuyết cho toàn bộ luận án:

  • Phân tích nguồn gốc thuật ngữ kinh tế xanh từ nghiên cứu của David Pearce (1989) và chuẩn hóa khái niệm theo UNEP (2011).
  • Trình bày 3 đặc trưng cốt lõi của nền kinh tế xanh, tập trung vào việc quản lý khí nhà kính (nhấn mạnh $\text{CO}_2$ chiếm trên 80% tỷ trọng), hiệu quả tài nguyên và vai trò then chốt của công nghệ thân thiện với môi trường.
  • Khái quát 12 mục tiêu kinh tế xanh lồng ghép trong khung 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) theo Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc (2015).
  • Hệ thống hóa các chính sách chuyển đổi theo khuyến nghị của OECD (2011) và UNDESA (2012c).
  • Định nghĩa chính sách tài chính quốc gia theo cách tiếp cận quản lý kinh tế - xã hội, chia tách thành 4 bộ phận: tài chính công, tài chính doanh nghiệp, thị trường tài chính và tài chính dân cư; làm rõ cơ chế tác động đa chiều của chính sách tài chính tới kinh tế xanh qua 3 giác độ: kinh tế (tạo nguồn thu bền vững, phân bổ vốn), môi trường (giảm ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên) và xã hội (việc làm, giảm nghèo, sức khỏe).
  • Xác định 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới hiệu lực của chính sách tài chính xanh: quy trình hoạch định, trình độ cán bộ, phương thức tiếp nhận thông tin, chiến lược phát triển từng thời kỳ và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Thiết kế khung phân tích định lượng dựa trên tổng quan 13 công trình thực nghiệm và lựa chọn mô hình OLS để lượng hóa tác động của thuế BVMT đến $\text{CO}_2$.

Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh

Chương 2 khảo cứu kinh nghiệm thực thi chính sách tại các quốc gia:

  • Kinh nghiệm của Nhật Bản:
    • Chính sách thuế các-bon: Ban hành trong chương trình cải cách thuế năm 2012 đối với nhiên liệu hóa thạch (dầu thô, khí thiên nhiên, than đá). Mức thuế áp dụng 289 Yên/tấn $\text{CO}_2$, thực hiện theo lộ trình 5 năm (đạt mức đầy đủ vào tháng 4/2016). Thuế bổ sung vào thuế than và dầu mỏ hiện hành. Nguồn thu đạt 39,1 tỷ Yên trong năm đầu và khoảng 262,3 tỷ Yên/năm trong các năm tiếp theo, hòa vào ngân sách chuyển cho Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) và Bộ Môi trường (MOE) để tài trợ công nghệ các-bon thấp và năng lượng tái tạo.
Đối tượng thu thuế tại Nhật Bản Thuế suất trước 2012 (Yên) Mức thuế bổ sung đối phó nóng lên toàn cầu (Yên/tấn $\text{CO}_2$) Mức thuế thực hiện từ 1/4/2016 (Yên)
Dầu thô và sản phẩm hóa dầu 2.040 / $kL$ 289 779 / $kL$ bổ sung (tổng cộng 2.819 / $kL$)
Khí hydrocacbon hóa lỏng (LPG/LNG) 1.080 / tấn 289 400 / tấn bổ sung (tổng cộng 1.480 / tấn)
Than đá 700 / tấn 289 301 / tấn bổ sung (tổng cộng 1.001 / tấn)
  • Thuế năng lượng và cơ chế Feed-in Tariff (FIT): Ban hành từ ngày 01/7/2012 nhằm trợ giá cố định cho điện tái tạo trong 20 năm. Biểu giá điện mặt trời quy mô $\ge 10\text{ kW}$ giảm dần theo chi phí công nghệ:
Năm tài chính 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Giá mua điện (Yên/kWh) 42 36 32 29 24 21 18 14
Thời hạn hợp đồng 20 năm 20 năm 20 năm 20 năm 20 năm 20 năm 20 năm 20 năm
  • Kết quả và hạn chế tại Nhật Bản: Thuế các-bon làm tăng giá nhiên liệu (xăng tăng 3,73%, dầu diesel tăng 4,47%, than bùn tăng 12,8%), giúp lượng phát thải $\text{CO}_2$ từ nhiên liệu hóa thạch giảm từ 1,3 tỷ tấn (2012) xuống 1,23 tỷ tấn (2016). Tuy nhiên, mức thuế suất 289 Yên/tấn $\text{CO}_2$ bị đánh giá là thấp hơn khuyến nghị của IMF, mức đóng góp vào việc giảm phát thải còn hạn chế (-0,2% hiệu ứng giá, -4,2% hiệu ứng ngân sách theo MOE); đồng thời tạo gánh nặng chi phí năng lượng đối với hộ gia đình thu nhập thấp (khoảng 1.200 Yên/năm).

  • Kinh nghiệm của Trung Quốc:

    • Chính sách thuế tài nguyên: Thực hiện thí điểm năm 2010 tại Tân Cương và 12 tỉnh miền Tây, mở rộng toàn quốc từ ngày 01/11/2011 đối với dầu thô và khí tự nhiên (thuế suất 5–10% trên doanh thu, tương đương 4 USD/thùng dầu ở mức giá 80 USD/thùng). Ban hành Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực từ ngày 01/9/2020 quy định 164 hạng mục thuế:
Mục thuế tài nguyên Đối tượng tính thuế Thuế suất quy định (%)
Dầu thô Quặng thô 6%
Khí tự nhiên, khí đá phiến Quặng thô 6%
Than đá Quặng thô hoặc quặng tinh 2% – 10%
Khí than Quặng thô 1% – 2%
Uranium, Thorium Quặng thô 4%
Đá phiến dầu, cát dầu, nhựa đường tự nhiên Quặng thô hoặc quặng tinh 1% – 4%
Địa nhiệt Quặng thô 1% – 20% (hoặc 1–30 NDT/$\text{m}^3$)
Kim loại đen (Sắt, Mangan, Crom, Vanadi, Titan) Quặng thô hoặc quặng tinh 1% – 9%
Kim loại màu (Đồng, Chì, Kẽm, Thiếc, Niken...) Quặng thô hoặc quặng tinh 2% – 10%
Bauxite Quặng thô hoặc quặng tinh 2% – 9%
Vonfram Quặng thô hoặc quặng tinh 6,5%
Molypden Quặng tinh 8%
Vàng, Bạc Quặng tinh 2% – 6%
Kim loại nhóm Bạch kim (Pt, Pd, Ru, Os, Ir, Rh) Quặng thô hoặc quặng tinh 5% – 10%
Đất hiếm nhẹ (La – Sm) Quặng tinh 7% – 12%
Đất hiếm trung bình và nặng (Eu – Lu) Quặng tinh 20%
Kim loại hiếm (Li, Be, Zr, Nb, Ta, Ge...) Quặng thô hoặc quặng tinh 2% – 10%
  • Kinh nghiệm về chi ngân sách và công cụ tài chính khác: Khảo cứu kinh nghiệm chi đầu tư công nghệ xanh của Hàn Quốc, cơ chế tín dụng xanh của Trung Quốc, thị trường trái phiếu xanh tại Ấn Độ và hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải (EU-ETS) của Liên minh Châu Âu.

Chương 3: Đánh giá chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng hệ thống tài chính xanh giai đoạn 1986–2020:

  • Tổng quan chính sách hướng tới kinh tế xanh tại Việt Nam: Phân tích việc triển khai "Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2050" và "Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020".
  • Phân tích thực trạng chính sách thu: Đánh giá việc lồng ghép mục tiêu môi trường vào Luật Thuế BVMT (năm 2010), Luật Thuế Tài nguyên, các ưu đãi thuế TNDN cho doanh nghiệp công nghệ cao, xử lý chất thải và chính sách thuế TTĐB đối với các mặt hàng gây ô nhiễm hoặc tiêu hao nhiều năng lượng. Phân tích tỷ lệ thu thuế BVMT so với GDP và thu NSNN giai đoạn 2012–2018; sản lượng khai thác than, dầu thô, khí tự nhiên và cơ cấu nguồn điện.
  • Phân tích thực trạng chính sách chi NSNN: Đánh giá dự toán và tình hình phân cấp chi NSNN cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, chi đầu tư phát triển hạ tầng xanh và các chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
  • Phân tích các công cụ tài chính khác: Tình hình tăng trưởng dư nợ tín dụng xanh qua các năm của hệ thống ngân hàng thương mại; thực trạng ban hành khung pháp lý cho trái phiếu xanh (trái phiếu chính phủ xanh, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp xanh); sự tham gia vào Cơ chế phát triển sạch (CDM) và chứng chỉ giảm phát thải (CERs).
  • Những vấn đề đặt ra: Mức thuế và phí bảo vệ môi trường chưa phản ánh đầy đủ ngoại tác tiêu cực; thiếu thuế các-bon; chi ngân sách cho bảo vệ môi trường còn phân tán, thiếu sự phối hợp liên ngành; danh mục phân loại xanh cho tín dụng và trái phiếu chưa đồng bộ.
  • Đánh giá lượng hóa tác động: Ứng dụng mô hình OLS trên STATA kiểm định tác động của thuế BVMT và các biến kinh tế vĩ mô (GDP, năng lượng, dân số, độ mở thương mại) đến lượng phát thải $\text{CO}_2$ tại Việt Nam.

Chương 4: Bài học cho Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính nhằm hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam

Chương 4 xác định mục tiêu và đề xuất hệ thống giải pháp đến năm 2030:

  • Mục tiêu đến năm 2030: Bám sát cam kết quốc gia tự quyết định (NDC) giảm 8% phát thải $\text{CO}_2$ bằng nguồn lực trong nước và 25% khi có hỗ trợ quốc tế; tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng bền vững.
  • Bài học kinh nghiệm rút ra từ quốc tế:
    • Đối với chính sách thu: Cần xây dựng lộ trình tăng thuế minh bạch, dài hạn để doanh nghiệp kịp điều chỉnh công nghệ; áp dụng đồng bộ thuế các-bon và thuế năng lượng; trích một phần số thu thuế xanh để hỗ trợ tài chính cho các nhóm dân cư thu nhập thấp chịu ảnh hưởng từ tăng giá năng lượng.
    • Đối với chính sách chi: Tập trung nguồn lực công vào các dự án hạ tầng chiến lược, sử dụng cơ chế quỹ chuyên biệt và huy động vốn đồng tài trợ từ các định chế tài chính quốc tế.
    • Đối với công cụ tài chính khác: Hoàn thiện tiêu chí sàng lọc môi trường cho hệ thống ngân hàng thương mại, ban hành quy chế chuẩn hóa phát hành trái phiếu xanh và thiết lập sàn giao dịch hạn ngạch phát thải các-bon.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất cho Việt Nam:
    • Nhóm giải pháp về chính sách thu: Rà soát, sửa đổi Luật Thuế BVMT, Luật Thuế Tài nguyên, Luật Thuế TNDN và Thuế TTĐB; nghiên cứu xây dựng và ban hành thuế các-bon tại Việt Nam với lộ trình thuế suất tăng dần.
    • Nhóm giải pháp về chính sách chi: Nâng cao tỷ trọng và hiệu quả giải ngân chi NSNN cho sự nghiệp BVMT; tăng cường kiểm toán, giám sát việc sử dụng nguồn chi cho các mục tiêu xanh.
    • Nhóm giải pháp về công cụ tài chính khác: Xây dựng và vận hành thị trường tín chỉ các-bon trong nước kết nối quốc tế; hoàn thiện khung pháp lý và chính sách ưu đãi cho thị trường trái phiếu xanh; mở rộng danh mục dự án được cấp tín dụng xanh.
    • Nhóm giải pháp bổ trợ: Nâng cao năng lực cán bộ hoạch định chính sách, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ sạch.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về nền kinh tế xanh và hệ thống chính sách tài chính hướng tới nền kinh tế xanh trong bối cảnh mới.
  • Xây dựng khung phân tích toàn diện đánh giá tác động của chính sách tài chính (bao gồm chính sách thu, chính sách chi và các công cụ thị trường tài chính) đến ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường.
  • Tổng hợp hệ thống các nhân tố vĩ mô tác động đến phát thải khí $\text{CO}_2$ từ y văn quốc tế làm nền tảng cho việc thiết lập mô hình kiểm định thực nghiệm.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo nghiệm và đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế có giá trị tham khảo cao từ Nhật Bản (về thuế các-bon và cơ chế giá FIT), Trung Quốc (về thuế tài nguyên và tín dụng xanh), Hàn Quốc, Ấn Độ và EU phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng thực thi chính sách tài chính hướng tới kinh tế xanh tại Việt Nam giai đoạn 1986–2020 trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường; chỉ rõ các điểm nghẽn về cấu trúc thuế, phân cấp chi ngân sách và khung khổ thị trường tài chính xanh.
  • Thực hiện lượng hóa tác động thực nghiệm của thuế BVMT đối với lượng phát thải khí $\text{CO}_2$ tại Việt Nam thông qua mô hình kinh tế lượng OLS.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện chính sách tài chính hiện hành đến năm 2030, trọng tâm là đề xuất phương án nghiên cứu áp dụng thuế các-bon, tái cấu trúc chi ngân sách cho BVMT và phát triển thị trường tín chỉ các-bon, trái phiếu xanh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu: Do hạn chế về tính sẵn có và chuỗi thời gian của nguồn số liệu thống kê tại Việt Nam, phân tích định lượng trong luận án chỉ tập trung ước lượng tác động của một chính sách thuế đơn lẻ (thuế BVMT) đến biến đại diện môi trường là phát thải $\text{CO}_2$, chưa thể bao quát đồng thời nhiều công cụ tài chính khác (chi tiêu công, tín dụng xanh, trái phiếu xanh) trong một mô hình tổng thể cả về chiều rộng và chiều sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khi nguồn dữ liệu thống kê môi trường và tài chính xanh được chuẩn hóa và cập nhật đầy đủ hơn, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mô hình định lượng đa biến để đánh giá tác động tương tác đồng thời của cả chính sách thu, chi ngân sách và các công cụ tài chính thị trường đối với nhiều chỉ tiêu môi trường khác (bụi mịn, chất thải rắn, mức độ suy thoái tài nguyên nước).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học cho Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước trong việc rà soát, sửa đổi hệ thống luật thuế (thuế BVMT, thuế Tài nguyên, thuế TTĐB), xây dựng đề án thuế các-bon, phân bổ ngân sách chi BVMT và hoàn thiện khung pháp lý cho tín dụng xanh, trái phiếu xanh.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp tài liệu tổng quan y văn chi tiết, khung lý thuyết phân loại chính sách tài chính theo chuẩn mực của OECD, UNDESA và mô hình kinh tế lượng lượng hóa phát thải $\text{CO}_2$ phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu trong các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính công và Kinh tế môi trường.
  • Các định chế tài chính và doanh nghiệp: Cung cấp thông tin tham khảo về xu hướng vận hành của các công cụ tài chính xanh (tín dụng xanh, trái phiếu doanh nghiệp xanh, thị trường tín chỉ các-bon) để xây dựng chiến lược chuyển đổi kinh doanh phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn chỉ tiêu nào làm đại diện cho khía cạnh môi trường trong mô hình định lượng?

Luận án sử dụng lượng phát thải khí $\text{CO}_2$ làm biến phụ thuộc đại diện cho khía cạnh môi trường của nền kinh tế xanh. Lý do được tác giả đưa ra là vì trong các loại khí nhà kính gây biến đổi khí hậu, khí $\text{CO}_2$ chiếm tỷ trọng áp đảo (trên 80% tổng lượng phát thải).

2. Chính sách thuế các-bon của Nhật Bản được thiết kế và vận hành với mức thuế suất như thế nào?

Thuế các-bon tại Nhật Bản được đưa vào chương trình cải cách thuế năm 2012, áp dụng thu bổ sung dựa trên hàm lượng các-bon đối với dầu thô, khí tự nhiên và than đá tại điểm nhập khẩu hoặc khai thác. Mức thuế được tính toán là 289 Yên/tấn $\text{CO}_2$, áp dụng theo lộ trình 5 năm (khởi đầu bằng 1/3 mức thuế và đạt mức đầy đủ 289 Yên/tấn $\text{CO}_2$ vào tháng 4/2016). Nguồn thu được hòa vào ngân sách và phân bổ cho Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp cùng Bộ Môi trường để tài trợ cho công nghệ các-bon thấp và năng lượng tái tạo.

3. Trung Quốc quy định mức thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí tự nhiên và đất hiếm ra sao theo Luật Thuế tài nguyên năm 2020?

Theo Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực từ ngày 01/9/2020 của Trung Quốc, mức thuế suất quy định đối với dầu thô dạng quặng thô là 6%; khí tự nhiên và khí đá phiến dạng quặng thô là 6%; đất hiếm nhẹ (La–Sm) dạng quặng tinh áp dụng thuế suất từ 7% đến 12%; và đất hiếm trung bình/nặng (Eu–Lu) dạng quặng tinh áp dụng mức thuế suất cao nhất là 20%.

4. Những biến kiểm soát nào được đưa vào mô hình kinh tế lượng ước lượng tác động của chính sách tài chính tại Việt Nam?

Trong mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) sử dụng phần mềm STATA, bên cạnh biến chính sách tài chính là thuế BVMT, luận án đưa vào 4 biến kiểm soát vĩ mô được tổng hợp từ y văn quốc tế, bao gồm: tăng trưởng kinh tế ($\text{GDP}$), mức tiêu thụ năng lượng ($\text{Energy}$), quy mô dân số ($\text{Population}$) và độ mở thương mại ($\text{Trade Openness}$).


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thị Quỳnh Hoa là công trình nghiên cứu toàn diện về việc vận dụng hệ thống chính sách tài chính nhằm thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế xanh tại Việt Nam. Thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa tổng quan lý luận, khảo cứu kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, EU) và kiểm định lượng hóa bằng phương pháp OLS, luận án đã làm rõ vai trò, thực trạng cũng như những điểm nghẽn chính sách tại Việt Nam giai đoạn 1986–2020. Trên cơ sở đó, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2030, bao gồm hoàn thiện chính sách thu (đặc biệt là nghiên cứu áp dụng thuế các-bon), nâng cao hiệu quả phân bổ chi ngân sách cho bảo vệ môi trường và phát triển các công cụ thị trường tài chính xanh nhằm thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính quốc gia.