Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự. Chương 2: Thực tiễn giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự tại tỉnh Long An giai đoan từ năm 2012 đến năm 2016 Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự tại tỉnh Long An 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm khiếu nại, giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự 1.Khái niệm khiếu nại về thi hành án dân sự 1.Khái niệm thi hành án dân sự Thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng dân sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, trong đó các bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành thì quyền lợi của đương sự chưa được đảm bảo, nguyên tắc pháp chế bị vi phạm. Để đảm bảo nguyên tắc pháp chế thì các bản án, quyết định của tòa án phải được thi hành trên thực tế.
Trường hợp các đương sự không tự nguyện thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ đảm bảo bản án, quyết định được thi hành theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự hay là thủ tục hành chính đã có một thời có nhiều ý kiến khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án dân sự không phải là thủ tục tố tụng dân sự, mà là hoạt động mang tính chấp hành và điều hành như vậy thi hành án dân sự là một thủ tục hành chính. Ngược lại với quan điểm thứ nhất quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự.
Đây là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự. Quan điểm thứ ba lại cho rằng thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng đặc biệt bởi nó vừa mang tính chất hành chính-tư pháp Cả ba quan điểm đều có điểm hợp lý nhưng quan điểm thứ ba là phù hợp hơn cả bởi những lý do như sau: Thứ nhất thi hành án dân sự mang tính hành chính 6 Thi hành án dân sự là dạng hoạt động chấp hành, quản lý. Là dạng hoạt động chấp hành vì thi hành án dân sự chỉ được tiến hành trên cơ sở các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ luật định; toàn bộ quá trình thi hành án dân sự với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật. Là dạng hoạt động quản lý vì thi hành án dân sự là sự tác động của pháp luật, của các cơ quan thi hành án tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án; phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước và trở thành người lương thiện (đối với những người bị kết án phạt tù).
Thứ hai Thi hành án dân sự mang tính tư pháp Căn cứ để thi hành án dân sự là các bản án và quyết định của Tòa án và có sự tham gia của các cơ quan tư pháp vào quá trình thi hành án dân sự. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng tính tư pháp trong thi hành án dân sự là tư pháp hiểu theo nghĩa rộng. Trong thực tiễn ở nước ta, cơ quan tư pháp thường được hiểu bao gồm Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án. Theo tác giả điều này là không đúng.
Về mặt lý luận, nhiều quốc gia trên thế giới đều xem quyền tư pháp là quyền xem xét và phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp; Tòa án là cơ quan tư pháp độc lập duy nhất. Viện Kiểm sát nhân dân chỉ là cơ quan tham gia các hoạt động tư pháp. Ngay cả Bộ Tư pháp về tên gọi là như thế nhưng vẫn không có quyền tư pháp (quyền phán quyết) mà chỉ là cơ quan quản lý nhà nước về một số lĩnh vực liên quan trong hoạt động tư pháp (luật sư, thi hành án dân sự. Tương tự như vậy, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án dân sự cũng thuộc nhóm cơ 7 quan hành pháp.
Hệ quả là không thể dựa vào tính tư pháp trong thi hành án dân sự để cho rằng thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố tụng hành chính. Vì vậy, có thể dùng "cái gạch ngang" giữa hành chính và tư pháp để phản ánh bản chất của thi hành án. Tính chất hành chính - tư pháp là một đặc điểm rất quan trọng cần lưu ý trong khi quy định về tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự. Là hoạt động thuộc trách nhiệm của hệ thống cơ quan hành pháp nên trong các quy định của pháp luật thi hành án dân sự phải xác định rõ trách nhiệm chính trong tổ chức, quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án dân sự phải thuộc về Chính phủ và Ủy ban nhân dân các địa phương.
Với đặc điểm là hoạt động mang tính chất tư pháp thì những tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trực tiếp thi hành án (Chi cục trưởng, chấp hành viên) phải có tính độc lập tương đối, hoạt động theo luật và chịu trách nhiệm trước Nhà nước. Thật khó có thể xác định rõ được mức độ (liều lượng) của tính hành chính và tính tư pháp trong thi hành án dân sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn, dữa vào đặc điểm của thi hành án dân sự cũng như của mỗi nhóm vụ việc trong từng loại hình thi hành án sẽ quy định mức độ của tính hành chính và tính tư pháp và thông thường trong thi hành án, tính tư pháp luôn thể hiện ở mức độ hạn chế hơn so với tính hành chính.Khái niệm khiếu nại và khiếu nại về thi hành án dân sự Nhà nước ra đời trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, thông qua việc sử dụng Nhà nước, giai cấp thống trị đã điều hòa được những mâu thuẩn giai cấp trong xã hội, bảo vệ được quyền lợi của giai cấp mình. Tuy nhiên bất kì Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải an dân và ổn định xã hội.
Bởi, nếu không có dân thì cũng không có Nhà nước. Do vậy trong hoạt động của mình, mọi Nhà nước đều có những quy định trong luật việc bảo vệ công dân của mình. Về phía người dân, dù có hiểu biết cao hay 8 hiểu biết thấp đều nhận thức rằng: dưới sự bảo hộ của Nhà nước thì mọi quyền lợi của mình mới được đảm bảo, được bảo vệ. Song, do bản chất của Nhà nước khác nhau nên mức độ bảo hộ khác nhau.
Mặt khác, bản thân Nhà nước cũng luôn mong muốn bộ máy do mình lập ra, trong đó có đội ngũ quan chức Nhà nước phải tuân thủ sự điều khiển quản lý của Nhà nước, không muốn bất kỳ ai, tổ chức nào trong bộ máy Nhà nước lại phá vỡ những quy định pháp luật mà Nhà nước đã đặt ra. Thế nhưng, trong thực tiễn thì hoạt động của bản thân từng người dân dù ít, dù nhiều đều có mối quan hệ với bộ máy chính quyền Nhà nước, với tổ chức xã hội và các công dân khác. Trong các quan hệ đó, có lúc, có nơi với nhiều lý do khác nhau, những người trong bộ máy công quyền cũng đã vi phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân và như vậy xuất hiện khiếu nại Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011 quy định “khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [17, tr.1] Khi người dân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại thì họ có quyền khiếu nại. Cũng có thể hiểu rằng lĩnh vực nào trong phạm vi quản lý xã hội của nhà nước cũng có thể bị khiếu nại: đất đai, công chứng, hải quan.trong đó có thi hành án dân sự.
Và khiếu nại về thi hành án dân sự là một khái niệm cần được tìm hiểu khi hoạt động thi hành án dân sự trong những năm gần đây đang được xã hội quan tâm nhiều Song song với sự quan tâm đó thì Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc mở rộng dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa bảo vệ 9 quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Việc mở rộng dân chủ phải gắn liền với xây dựng hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến tận cơ sở. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới đất nước. Khiếu nại là một trong những quyền lợi cơ bản của công dân đã được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013.
Điều 30 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam quy định: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.