Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Khái niệm khiếu nại hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Một số vấn đề về quyền và thực thi quyền khiếu nại hành chính Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật.
Điều 74 Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 (sau đây gọi chung là Hiến pháp năm 1992) quy định: Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất kỳ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định… Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác [23]. Thông qua thực hiện quyền khiếu nại, công dân, cơ quan, tổ chức có thể yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính và hành vi hành chính mà họ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, qua việc khiếu nại, công dân đã thực hiện quyền làm chủ của mình, trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Về phía Nhà nước, thông qua 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc giải quyết các vụ việc khiếu nại của công dân đã giúp cho Nhà nước biết và kiểm tra tính đúng đắn của đường lối, chính sách, pháp luật; thấy được khi thực hiện quyền Nhà nước giao, các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức có sử dụng pháp luật đúng hay không, để điều chỉnh kịp thời, nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước. Vì vậy: Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là một quyền quan trọng và có ý nghĩa kép (Điều 74 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005), vì quyền này không chỉ là phương tiện để đảm bảo các quyền, tự do cá nhân không bị xâm hại, mà còn góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước… [50]. Bên cạnh việc ghi nhận quyền khiếu nại của công dân, Nhà nước còn không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống những đảm bảo đối với quyền khiếu nại của công dân. "Những đảm bảo đối với quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là những điều kiện khách quan của sự phát triển xã hội và những phương tiện do nhà nước và xã hội tạo ra, nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, bảo vệ họ khi thực hiện các quyền đó" [29].
Theo đó, hệ thống những đảm bảo đối với quyền khiếu nại của công dân bao gồm: Những đảm bảo về kinh tế, những đảm bảo về chính trị - tư tưởng, những đảm bảo về pháp lý và những đảm bảo về xã hội, trong đó những đảm bảo pháp lý là vấn đề mấu chốt để công dân thực hiện quyền khiếu nại của mình trên thực tế. Theo tinh thần của Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa kỳ (BTA) và các văn kiện của WTO thì các bên phải thiết lập một cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính nhanh chóng, khách quan, công bằng và không thiên vị; các khiếu nại hành chính phải được giải quyết cuối cùng bởi Tòa án; trong hoàn cảnh và điều kiện cho phép thiết lập cơ quan tài phán hành chính để giải quyết các khiếu nại hành chính. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1991, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân. Pháp lệnh này được thay thế bằng Luật khiếu nại tố cáo năm 1998.
Năm 2004 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và tiếp đó, năm 2005 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo. Để triển khai thi hành Luật khiếu nại, tố cáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo; Nghị định số 62/2002/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999; Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004; Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo. Ngày 15/6/2004, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo - Luật số 26/2004/QH11, có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2004 (sau đây gọi là Luật năm 2004). Ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo - Luật số 58/2005/QH11 (sau đây gọi là Luật năm 2005).
Ngày 11 tháng 11 năm 2011, Quốc hội đã thông qua Luật Khiếu nại - Luật số 02/2011/QH13 (sau đây gọi là Luật năm 2011). Theo đó, trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, nếu xét thấy việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại, quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết định hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó. Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người giải quyết khiếu nại có thể gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết khiếu nại. Trong trường hợp người khiếu nại nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật thì luật sư có quyền tham gia trong quá trình giải quyết khiếu nại.
Để thể chế hóa quyền khiếu nại của công dân, Luật Khiếu nại năm 2011 đã thay thế Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005 ghi nhận quyền khiếu nại ngay tại Điều 2: Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình [26]. Theo Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định, người khiếu nại có các quyền sau đây: a) Tự mình khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại; Trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại; b) Nhờ luật sư tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trường hợp người khiếu nại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật thì được nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com c) Tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; d) Được biết, đọc, sao chụp, sao chép, tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; đ) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao nộp cho người giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; e) Được yêu cầu người giải quyết khiếu nại áp dụng các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra do việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại; g) Đưa ra chứng cứ về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về chứng cứ đó; h) Nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại; i) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; k) Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính; l) Rút khiếu nại [26].
Trong nhiều năm qua, tình hình khiếu nại diễn ra ngày càng phức tạp, số vụ việc khiếu nại tăng nhanh và ngày càng gay gắt; khiếu nại đông người, vượt cấp ngày càng gia tăng. Các khiếu nại thường tập trung vào các quyết định hành chính trên lĩnh vực giải phóng mặt bằng, tái định cư; đất đai, nhà cửa, hải quan, thuế vụ, cấp phép kinh doanh, đầu tư. Đối tượng bị kiện là tất cả các 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ quan công quyền từ cấp xã, huyện đến tỉnh, kể cả các bộ, ngành, nhưng chủ yếu là cấp xã và huyện.