Chương 1 đã làm rõ được sự hình thành, vị trí địa lí, cơ cấu- tổ chức, chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận của UBND huyện chỉ ra được thẩm quyền, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của UBND huyện trong điều hành các công việc trọng tâm, quan trọng, phức tạp, những vấn đề có tính chiến lược, dài hạn trên các lĩnh vực công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện, góp phần phục vụ tốt hơn cho người dân, góp phần thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước ta hiện nay, nhằm hướng tới xây dựng nền hành chính phục vụ và hiện đại. Trên đây là toàn bộ thông tin về UBND huyện Sa Thầy mà em đã thu thập được trong suốt quá trình thực tập. Tuy nhiên vẫn không tránh được một số thiếu sót, mong quý thầy cô thông cảm. 8 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHIẾU NẠI VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI 2.
TỔNG QUAN VỀ KHIẾU NẠI 2.1 Lịch sử hình thành những quy định của pháp luật Việt Nam về khiếu nại * Quá trình hình thành quyền khiếu nại trong các bản Hiến pháp Việt Nam Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, lịch sử Luật Hiến pháp Việt Nam, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân bao giờ cũng là một chế định quan trọng, vì đây là một trong những chế định thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước ta, mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân trong xã hội. Trong hệ thống các quyền và nghĩa vụ của công dân được xác định bằng Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước ta, quyền khiếu nại được coi là một trong những quyền cơ bản, chiếm vị trí quan trọng, liên quan chặt chẽ với những quyền cơ bản khác. Nó thể hiện không chỉ ở một lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội mà bao hàm tất cả các phạm vi chủ yếu của đời sống và hoạt động của công dân. Văn bản pháp lý đầu tiên quy định quyền khiếu nại của công dân là Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 về thành lập Ban Thanh Tra đặc biệt do chủ tịch Hồ Chí Minh ký.
Bản Sắc lệnh gồm 8 điều: “Điều thứ nhất: Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho việc giám sát Điều thứ 2: Ban thanh tra đặc biệt có toàn quyền: - Nhận các đơn khiếu nại của nhân dân. Đây là văn bản pháp lý quan trọng xác định quyền khiếu nại của công dân đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, nhân viên làm việc trong cơ quan đó và trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong giải quyết khiếu nại của người dân. Điều này cho thấy mặc dù trong giai đoạn này đất nước còn gặp nhiều khó khăn song Đảng, Nhà nước ta đã coi hoạt động khiếu nại, giải quyết khiếu nại và tiếp công dân là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trên thực tế, Ban Thanh Tra đặc biệt đã thông qua việc nhận đơn khiếu nại của nhân dân, từ đó nghiên cứu giải quyết.
Trong những trường hợp cần thiết thì điều tra tại chổ, gặp gỡ nhân dân để giải quyết ngay các yêu cầu của quần chúng. Quyền khiếu nại ngày một hoàn chỉnh, được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của nước ta, đó là Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001. Mỗi một lần sửa đổi, ban hành Hiến pháp mới thì quyền khiếu nại của công dân lại được ghi nhận đậm nét hơn. Trong Hiến pháp 1946 Trước Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta bị nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
Khi ấy mục tiêu của cách mạng trước hết quyền của dân tộc, quyền của cộng đồng tức là quyền độc lập tự do của dân tộc. Một dân tộc mà chưa giành được độc lập thì 9 không thể nói đến tự do hạnh phúc cho mỗi cá nhân trong cộng đồng đó. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, với bản tuyên ngôn lịch sử đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Lần đầu tiên Hiến pháp năm 1946 mang đến cho người dân Việt Nam các quyền dân chủ, dân sinh, các quyền kinh tế xã hội văn hóa.
Hiến Pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng đã ghi nhận các quyền và tự do dân chủ hoàn toàn là của người dân Việt Nam như quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do ngôn luận, tự do tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài, quyền bất khả xâm phạm về thân thể và chỗ ở1. Cùng với việc ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 1946 còn quy định việc xây dựng các thiết chế của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc “Nước Việt Nam là một nước dân chủ Cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam,…”2. Hiến pháp năm 1946 đã ấn định các quyền và tự do cơ bản của công dân cùng với bộ máy nhà nước bảo đảm các quyền và tự do dân chủ đó, đã gián tiếp khẳng định quyền năng chủ thể khiếu nại của công dân cũng như trách nhiệm giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước.
Cũng trong thời kì đó, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản nhằm tạo ra cơ chế đảm bảo quyền khiếu nại của công dân và tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết tốt các khiếu nại của công dân. Trong Thông tư số 203/NV-VP ngày 25/5/1946 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về khiếu tố nêu rõ: “Chính phủ và các cơ quan của chính phủ thiết lập trên nền tảng dân chủ, có bổn phận đảm bảo công lý và vì thế rất để ý đến nguyện vọng của dân chúng và sẵn lòng xem xét những nỗi oan khuất trong dân gian”. Thông tư này còn hướng dẫn cho công dân thủ tục gửi đơn, giới thiệu thẩm quyền của các cơ quan, thời hạn để giải quyết khiếu nại. Những quy định trên đây là cơ sở quan trọng chuẩn bị cho việc ghi nhận quyền khiếu nại vào Hiến pháp 1959 như là một quyền cơ bản của công dân, một biện pháp hữu hiệu để người dân bảo vệ các quyền tự do, dân chủ khác như những lợi ích chính đáng của mình.
Tuy Hiến pháp năm 1946 chưa có một điều khoản cụ thể nào quy định quyền khiếu nại của công dân, song thể chế dân chủ mà Hiến pháp này tạo dựng nên đã là nền tảng cơ bản hình thành quyền khiếu nại của công dân trên thực tế. Trong Hiến pháp 1959 Kế thừa và phát triển tư tưởng dân chủ của Hiến pháp năm 1946, ngày 01/01/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đó là Hiến pháp 1959. So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 đã khẳng định những quyền tự do và nghĩa vụ của công dân một cách đầy đủ và toàn diện hơn. Đặc biệt, Hiến pháp đã dành riêng một điều quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải xem xét giải quyết kịp thời, nhanh chóng các khiếu nại để bảo vệ quyền lợi cho người dân.
Hiến pháp năm 1959 đã chính thức ghi nhận quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân. Điều 29 10 Hiến pháp 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất kỳ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước. Các khiếu nại, tố cáo cần phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại do những việc làm trái pháp luật gây ra có quyền được bồi thường”.
Nếu như Hiến pháp 1946 quy định quyền và nghĩa vụ của công dân chỉ vỏn vẹn qua 18 điều, thì Hiến pháp 1959 thể hiện quyền và nghĩa vụ của công dân gia tăng về số lượng và nội dung phong phú hơn thể hiện qua 21 điều. Bên cạnh việc quy định các quyền của công dân, Hiến pháp còn xác định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện. Ngoài những quyền và nghĩa vụ mà Hiến pháp 1946 đã ghi nhận, Hiến pháp 1959 còn quy định thêm nhiều quyền và nghĩa vụ mới mà trong Hiến pháp 1946 chưa được thể hiện. Ví dụ: Quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động, quyền tự do nghiên cứu khoa học và sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoá khác, quyền khiếu nại tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên, cơ quan nhà nước, nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng.
Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, đảm bảo cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại mà Hiến pháp đã ghi nhận, đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết đơn khiếu nại của công dân, các văn bản quy định trực tiếp về vấn đề này là: Nghị quyết số 164/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ về tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan thanh tra của Nhà nước; Nghị định 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ quy định quyền hạn, trách nhiệm của Ủy ban thanh tra của Chính phủ; Thông tư 60/UBTT ngày 22/5/1971 cuả Ủy ban thanh tra của Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Những quy định trên đây của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; kiểm tra giám sát hoạt động của cán bộ, nhân viên nhà nước, tổ chức xã hội trong việc thi hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo vệ lợi ích của tập thể, Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đồng thời quy định trách nhiệm của mỗi cấp mỗi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giải quyết đúng đắn kịp thời đơn thư khiếu nại của công dân.