Chương 1: Cơ sở khoa học để khẳng định cần đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm dừa Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu các sản phẩm dừa Bến Tre sang thị trường Trung Đông Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm dừa Bến Tre sang thị trường Trung Đông 123doc 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ KHẲNG ĐỊNH CẦN ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM DỪA 1. Các học thuyết về thƣơng mại quốc tế Vào cuối thế kỷ 15, các nhà kinh tế học cổ điển đã phát hiện ra vai trò quan trọng của thương mại quốc tế đối với hoạt động phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Từ đó cho đến nay nhiều thế hệ các nhà kinh tế học trên thế giới đã kế thừa, bổ sung và phát triển các học thuyết về thương mại quốc tế. Sau đây là nội dung cơ bản của một số học thuyết thương mại quốc tế.
Thuyết trọng thƣơng Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, ra đời trước hết ở Anh, Pháp và sau đó lan rộng sang các nước châu Âu vào khoảng cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVII. Thuyết trọng thương bao gồm một số nội dung cơ bản: coi trọng xuất nhập khẩu, cho rằng xuất siêu là con đường mang lại sự phồn thịnh cho đất nước. Bên cạnh việc đánh giá cao vai trò của thương mại quốc tế, thuyết còn đề cao sự can thiệp sâu của Chính phủ vào các hoạt động kinh tế và ngoại thương thông qua việc lập ra hàng rào thuế quan, khuếch trương xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Các học giả trọng thương được gọi là “những nhà kinh tế dân tộc chủ nghĩa” vì họ cho rằng một quốc gia có thể có lợi nhờ mậu dịch trên sự hy sinh của một quốc gia khác.
Điều đó có nghĩa là mậu dịch quốc tế là một trò chơi có tổng bằng không2. Mặc dù còn những hạn chế về lý luận song hệ thống quan điểm của chủ nghĩa trọng thương đã tạo ra những tiền đề kinh tế cho các lý thuyết kinh tế thị trường sau này, đặc biệt là những quan điểm về vai trò kinh tế của nhà nước. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Adam Smith (1723 – 1790) là nhà lý luận kinh tế chính trị học nổi tiếng người Anh. Ông được xem là cha đẻ của lý thuyết kinh tế thị trường, đưa ra ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích nguồn gốc và lợi ích của thương mại quốc tế.
2 Theo Hoàng Thị Chỉnh, Nguyễn Hữu Lộc và Nguyễn Phú Tụ, 2007. Giáo Trình Kinh Tế Quốc Tế. Nhà xuất bản Thống kê. 123doc 7 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith đề cao vai trò của cá nhân và các doanh nghiệp, ủng hộ cho nền thương mại tự do mà không có sự can thiệp của Chính phủ.
Theo đó sẽ có một bàn tay vô hình dẫn dắt mỗi cá nhân hướng đến lợi ích chung ngoài mong đợi của cá nhân đó. Theo ông, hai quốc gia mậu dịch với nhau là tự nguyện và cả hai đều cùng phải có lợi, khác hẳn với thuyết trọng thương khi cho rằng một quốc gia chỉ có lợi trên sự hy sinh của quốc gia khác. Ông khẳng định nguyên tắc phân công lao động để tạo ra nhiều lợi nhuận làm cơ sở cho sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối. Tuy nhiên lợi thế tuyệt đối chỉ có thể giải thích được một phần trong mậu dịch thế giới ngày nay ví dụ như giữa nước phát triển với nước đang phát triển, còn các trường hợp khác thì chưa thể giải thích hợp lý được.
Quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo David Ricardo (1772 – 1823) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh. Ông cho rằng nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu những sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh thì tất cả các quốc gia đều có lợi. Lợi thế so sánh ở đây là dựa vào trình độ phát triển yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia và sẽ thay đổi theo thời gian cũng như theo trình độ phát triển của mỗi địa phương, quốc gia nhất định. Nếu như lợi thế tuyệt đối của Adam Smith được xây dựng dựa trên cơ sở khác biệt về số lượng lao động thực tế được sử dụng ở các quốc gia khác nhau, thì lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối.
Nhờ đó có cách lý giải cho các trường hợp giao thương mà lý thuyết về lợi thế tuyệt đối không giải thích được. Đó là cho một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia khác ở cả hai sản phẩm nhưng vẫn có lợi khi trao đổi với nhau trừ trường hợp một quốc gia có cùng một tỷ lệ về năng suất lao động hay chi phí sản xuất đối với quốc gia kia ở cả hai sản phẩm. Lý thuyết về chi phí cơ hội của Haberler Gottfried von Haberler (1900 – 1995) là một nhà kinh tế học nổi tiếng người Hoa Kỳ gốc Áo. Theo ông, chi phí cơ hội của một sản phẩm là số lượng của một 123doc 8 sản phẩm khác mà người ta phải hy sinh để có đủ tài nguyên làm tăng thêm một đơn vị sản phẩm thứ nhất.
Nội dung của lý thuyết về chi phí cơ hội đó là nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà mình có chi phí cơ hội thấp hơn và nhập khẩu sản phẩm mà mình có chi phí cơ hội cao hơn thì tất cả các quốc gia đều có lợi. Như vậy lý thuyết chi phí cơ hội vẫn sử dụng quy luật lợi thế so sánh để giải thích mậu dịch quốc tế. Tuy nhiên lý thuyết chi phí cơ hội đã khắc phục được khiếm khuyết trong lý thuyết của David Ricardo khi giả thiết rằng lao động không phải là yếu tố sản xuất duy nhất hay đồng nhất để tạo ra sản phẩm như quy luật lợi thế so sánh. Lý thuyết hiện đại về thƣơng mại quốc tế của Heckscher – Ohlin Lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế của Heckscher – Ohlin hay còn gọi là lý thuyết yếu tố thâm dụng được phát biểu như sau: Một quốc gia sẽ xuất khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia đó dư thừa tương đối và nhập khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia khan hiếm tương đối.
Lý thuyết H – O giải thích được sự khác nhau trong giá cả sản phẩm so sánh hay lợi thế so sánh giữa các quốc gia là sự khác nhau giữa các yếu tố thừa tương đối hoặc khan hiếm tương đối hay nguồn lực sản xuất vốn có của mỗi quốc gia. Vận dụng các lý thuyết này tác giả nhận thấy ngành dừa của tỉnh Bến Tre có nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển. Dừa Bến Tre có những lợi thế như năng suất dừa cao nhất thế giới vào khoảng 7.700 trái/ha, trọng lượng mỗi trái đạt 1.500 gram cao hơn mức bình quân thế giới là 1.300 gram, chất lượng dừa hàng đầu thế giới, chỉ số P/IC của ngành dừa đạt 4,12 tức chỉ cần đầu tư 1 đồng chi phí hàng hóa trung gian để tạo ra 4,12 đồng doanh thu, như vậy chỉ số này đã chứng minh chuỗi giá trị dừa hiện nay đang có khả năng cạnh tranh cao. Thêm vào đó, so với các ngành hàng đặc trưng và thế mạnh khác của tỉnh thì ngành dừa có lợi thế về chi phí sản xuất hơn hẳn.
Cụ thể, chi phí sản xuất 1 tấn dừa là 21,73 triệu đồng 3, thấp 3 Trần Tiến Khai và cộng sự, 2011. Báo cáo nghiên cứu Phân tích chuỗi giá trị dừa Bến Tre. Khoa Kinh tế phát triển, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh 123doc 9 hơn so với chi phí sản xuất của mặt hàng cá tra là vào khoảng 23 – 24 triệu đồng/ tấn cá4. Như vậy, vận dụng cơ sở lý thuyết về thương mại quốc tế vào thực tế hoạt động của ngành dừa Bến Tre, ta có thể nhận thấy việc đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm dừa Bến Tre là hướng đi hết sức đúng đắn của ngành dừa Bến Tre.
Tổng quan về ngành dừa 1. Dừa, sản phẩm dừa và vai trò của nó Cây dừa có tên khoa học là cocos nucifera, là một trong những loại cây lấy dầu quan trọng nhất thế giới hiện nay. Cây dừa phân bố rộng rãi từ vĩ độ 20 o Bắc xuống vĩ độ 20o Nam của đường xích đạo, với tổng diện tích 12,47 triệu ha được trồng tại 93 quốc gia, trong đó các quốc gia thuộc Hiệp hội dừa Châu Á – Thái Bình Dương (APCC) chiếm tới 10,76 triệu ha. Cây dừa sau khi được trồng khoảng 4 - 5 năm thì bắt đầu cho trái với sản lượng mỗi năm là khoảng 75 trái/cây/năm.
Sau khi được thu hoạch, trái dừa khô sẽ trải qua công đoạn sơ chế để bóc tách ra các thành phần khác nhau là vỏ dừa, gáo dừa, cơm dừa và nước dừa. Các sản phẩm thô này sẽ trở thành nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất chế biến các sản phẩm dừa. Cụ thể có thể chia ra 4 nhóm sản phẩm chính từ dừa: Nhóm 1: các sản phẩm được chế biến từ vỏ dừa, bao gồm xơ dừa và mụn dừa. Từ xơ dừa sản xuất ra chỉ xơ dừa, thảm xơ dừa, đệm xơ dừa, dây thừng và lưới xơ dừa.
Mụn dừa được phơi hoặc sấy và gia công ép bánh với nhiều kích cỡ khác nhau. Nhóm 2: các sản phẩm được chế biến từ gáo dừa. Gáo dừa được sản xuất thành than thiêu kết, sau đó được xay nghiền với nhiều kích cỡ khác nhau và xuất khẩu. Ngoài ra còn có than hoạt tính.
Một phần nhỏ gáo dừa được sản xuất thành các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Nhóm 3: các sản phẩm được chế biến từ cơm dừa như: cơm dừa sấy, dầu dừa, sữa dừa, bột sữa dừa và một phần được dùng để chế biến bánh kẹo. 4 Võ Thị Thanh Lộc, 2009. Phân phối lợi ích và chi phí trong chuỗi giá trị cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Tạp chí Quản lý Kinh tế, Số 26. 123doc 10 Nhóm 4: các sản phẩm được chế biến từ nước dừa, như là: thạch dừa thô, thạch dừa thành phẩm, thạch dừa dưỡng da và một phần nhỏ sản xuất nước màu dừa. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của các quốc gia có thế mạnh về dừa thường bao gồm dừa trái và các sản phẩm dừa.