Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu kinh tế - xã hội trọng tâm tại Việt Nam, đặc biệt tại khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kỹ thuật còn thiếu thốn và tỷ lệ hộ nghèo thường cao gấp nhiều lần mức bình quân cả nước. Xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn là một xã vùng III đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 của Chính phủ. Với địa bàn thuần nông, thu nhập của người dân phụ thuộc phần lớn vào canh tác nông - lâm nghiệp truyền thống, tỷ lệ hộ nghèo tại xã luôn ở mức cao (chiếm 44,13% vào năm 2014). Mặc dù Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình trợ cấp và tín dụng ưu đãi, tiến độ giảm nghèo tại địa phương vẫn chưa đạt tính bền vững, nguy cơ tái nghèo còn hiện hữu. Để hỗ trợ địa phương xác định các giải pháp phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập, tác giả Lý Thị Chanh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp với đề tài "Thực trạng và một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn".
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh hưởng đến nghèo của các hộ nông dân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp xóa đói giảm nghèo tại xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Mục tiêu cụ thể (gồm 6 nhiệm vụ theo văn bản):
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo.
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thiện Long.
- Tìm hiểu thực trạng nghèo tại xã Thiện Long.
- Tìm ra nguyên nhân chính gây nên nghèo của xã.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo của người dân xã Thiện Long.
- Đưa ra giải pháp khắc phục các nguyên nhân gây ra nghèo.
Khóa luận giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Tại sao phải nghiên cứu nghèo tại xã Thiện Long?
- Thực trạng nghèo của xã Thiện Long diễn ra như thế nào?
- Nguyên nhân nào dẫn đến nghèo của hộ, làm thế nào để xác định chính xác đâu là nguyên nhân chính và đâu là nguyên nhân phụ?
- Làm thế nào để đưa ra các giải pháp gắn với thực tiễn, phù hợp với điều kiện thực tế của nhóm hộ nghèo trong xã?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên toàn bộ địa bàn xã Thiện Long; khảo sát chuyên sâu tại 4 thôn đại diện: Bản Thàng, Ca Siều, Khuổi Kiếc và Khuổi Hẩu.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thống kê thứ cấp về kinh tế - xã hội thu thập trong giai đoạn 3 năm từ 2012 đến 2014; số liệu sơ cấp điều tra hộ nông dân tập trung vào năm 2014; thời gian thực tập và thu thập thực địa từ ngày 02/03/2015 đến ngày 05/04/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa chuẩn nghèo từ các tổ chức quốc tế và cơ quan quản lý Việt Nam:
- Hội nghị Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Băng Cốc (tháng 9/1993): Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, thay đổi theo trình độ phát triển và phong tục tập quán.
- Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Xã hội (Copenhagen, 1995): Xác định người nghèo là người có thu nhập dưới 1 USD/ngày.
- Ngân hàng Thế giới (WB): Phân chia cấp độ giàu nghèo của các quốc gia dựa trên thu nhập bình quân đầu người hàng năm (nước cực giàu từ 20.000 USD trở lên, khá giàu từ 10.000 USD, trung bình từ 2.000 USD, cực nghèo dưới 500 USD).
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Xác định đói là mức sống dưới mức tối thiểu duy trì sự sống; nghèo là chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục. Chuẩn nghèo tại Việt Nam được điều chỉnh qua các thời kỳ: Giai đoạn 2006–2010 (Quyết định 170/2005/QĐ-TTg) quy định mức 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng ở thành thị; giai đoạn 2011–2015 quy định mức chuẩn nghèo nông thôn dưới 400.000 đồng/người/tháng, cận nghèo từ 400.000 đến 520.000 đồng/người/tháng (thành thị nghèo dưới 500.000 đồng, cận nghèo từ 500.000 đến 650.000 đồng).
- Phân loại nguyên nhân đói nghèo của Bộ LĐ-TB&XH thành 3 nhóm: Nhóm do điều kiện tự nhiên - xã hội; nhóm thuộc cơ chế, chính sách; nhóm thuộc về bản thân hộ nghèo.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa có chọn lọc báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội 3 năm (2012–2014) của UBND xã Thiện Long, hệ thống chỉ tiêu giám sát Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo (2012–2014), Đề án nông thôn mới xã giai đoạn 2012–2020, số liệu kiểm kê đất đai năm 2014.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ (gồm 40 hộ nghèo và 20 hộ cận nghèo) tại 4 thôn đại diện trên tổng số 7 thôn của xã Thiện Long:
- Thôn Khuổi Kiếc (trung tâm, giao thương thuận lợi, tập trung cơ quan xã): 15 hộ (10 nghèo, 5 cận nghèo).
- Thôn Ca Siều (khu vực trung gian, hoạt động kinh tế mức trung bình): 17 hộ (12 nghèo, 5 cận nghèo).
- Thôn Bản Thàng (xa trung tâm, giao thông khó khăn): 8 hộ (5 nghèo, 3 cận nghèo).
- Thôn Khuổi Hẩu (xa trung tâm nhất, địa bàn khó khăn nhất xã): 20 hộ (13 nghèo, 7 cận nghèo).
- Phương pháp điều tra: Kết hợp quan sát thực địa, phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi thiết lập sẵn và phỏng vấn bán cấu trúc đối với chủ hộ, lãnh đạo UBND xã và trưởng thôn.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Nhập liệu và tổng hợp trên phần mềm Microsoft Excel, sử dụng các phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích cơ cấu, so sánh số tuyệt đối và tương đối.
- Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Chỉ tiêu đất đai (diện tích/hộ, diện tích/khẩu); chỉ tiêu vốn vay (vốn vay/hộ, mục đích vay); chỉ tiêu lao động (nhân khẩu/hộ, tỷ lệ lao động/khẩu, tỷ lệ phụ thuộc, trình độ học vấn); chỉ tiêu kinh tế hộ (tổng thu nhập, chi phí sản xuất, thu nhập thuần, thu nhập bình quân đầu người/tháng, chi tiêu/khẩu/tháng); chỉ tiêu đánh giá nghèo (tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ hộ cận nghèo).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả xác lập tính cấp thiết của nghiên cứu từ thực tiễn xã Thiện Long - địa bàn miền núi vùng III có điểm xuất phát thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao. Nội dung trình bày mục tiêu chung, 6 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và thực tiễn sản xuất, cấu trúc bố cục gồm 5 phần chính cùng hệ thống câu hỏi nghiên cứu định hướng việc tìm kiếm nguyên nhân cốt lõi gây nghèo.
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần này tổng quan các lý luận về đói nghèo, chuẩn nghèo quốc tế và trong nước. Đồng thời, tác giả tổng hợp bối cảnh thực tiễn:
- Thực tiễn thế giới: Báo cáo UNDP năm 2011 ghi nhận khoảng 1 tỷ người thiếu lương thực; nghiên cứu năm 2012 của ILO về nguy cơ nghèo đói gia tăng tại các nước phát triển sau khủng hoảng kinh tế; thông điệp của Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon về cuộc chiến chống đói nghèo toàn cầu.
- Thực tiễn Việt Nam: Báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011–2020 cho thấy tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2014 giảm còn 5,8–6,0%; 64 huyện nghèo giảm còn 33,2%; ngân sách Trung ương bố trí 35.426 tỷ đồng hỗ trợ giảm nghèo giai đoạn 2012–2014.
- Thực tiễn tỉnh Lạng Sơn: Hết năm 2014 toàn tỉnh có 33.215 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 14,9% (giảm 3,1% so với 2013). Ba huyện có tỷ lệ nghèo cao nhất là Bình Gia (49%), Đình Lập (40,88%), Văn Quan (37,32%). Toàn tỉnh có 62 xã tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên. Doanh số cho vay ưu đãi đạt 207.516 triệu đồng cho 7.660 lượt hộ nghèo; hỗ trợ 38.418 hộ nghèo tiền điện.
- Thực tiễn huyện Bình Gia: Là 1 trong 62 huyện nghèo nhất cả nước theo Nghị quyết 30a, có 17/20 xã đặc biệt khó khăn. Cuối năm 2014 huyện có 6.623 hộ nghèo trên tổng số 12.347 hộ (tỷ lệ 53,64%), thu nhập bình quân 11,31 triệu đồng/người/năm. Huyện đã cấp hơn 132.000 thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, giải ngân gần 70.000 triệu đồng từ Chương trình 135 để xây dựng kết cấu hạ tầng.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết phương pháp tiếp cận nghiên cứu kinh tế hộ nông thôn: Đối tượng nghiên cứu là hộ nghèo và cận nghèo tại xã Thiện Long; phạm vi khảo sát thực địa 60 hộ tại 4 thôn; phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; hệ thống công thức tính toán các chỉ tiêu kinh tế hộ (thu nhập thuần, chi tiêu, tích lũy) và công cụ xử lý bảng tính Excel.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn diện hiện trạng kinh tế - xã hội và nghèo đói tại xã Thiện Long thông qua các bảng số liệu chi tiết:
- Điều kiện tự nhiên và đất đai xã Thiện Long: Tổng diện tích đất tự nhiên là 5.486,04 ha, bình quân 2,114 ha/người. Trong đó, đất nông nghiệp là 4.111,12 ha (chiếm 74,94%), nhưng đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 704,93 ha (12,85% diện tích tự nhiên, gồm 196,90 ha đất lúa). Đất lâm nghiệp chiếm ưu thế với 3.389,45 ha (61,78% đất tự nhiên, gồm 2.698,07 ha rừng sản xuất và 691,38 ha rừng phòng hộ). Đất phi nông nghiệp là 181,66 ha (3,31%) và đất chưa sử dụng còn tới 1.193,26 ha (21,75%).
- Dân số và lao động: Đến 31/12/2014 toàn xã có 562 hộ với 2.595 nhân khẩu. Thành phần dân tộc gồm người Nùng chiếm 89,2% và người Dao chiếm 10,8%. Tổng số lao động năm 2014 là 1.588 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 92,76% (1.473 người), lao động phi nông nghiệp chỉ chiếm 7,24% (115 người).
- Hiện trạng cơ sở hạ tầng năm 2014: Hệ thống giao thông có tổng chiều dài 55,7 km (11 km tỉnh lộ 227, 14,2 km đường xã đến thôn, 30,5 km đường liên thôn). Đường bê tông mới đạt 7 km (tỷ lệ bê tông hóa 12,56%), còn lại 37,7 km là đường đất. Hệ thống điện có 5 trạm biến áp, 7/7 thôn có điện lưới, 513 hộ dùng điện thường xuyên (91,28%). Mạng viễn thông phủ sóng 90% với 5 trạm tiếp sóng. Toàn xã có 1 trạm y tế (2 nhà cấp 4) với 6 cán bộ y tế; 3 trường học với 491 học sinh và 39 phòng học (kiên cố 66,67%, bán kiên cố 23,08%, phòng tạm 10,25%, chưa có trường chuẩn quốc gia); hệ thống thủy lợi có 4 đập dâng và 5 km mương bê tông hóa, chưa có hồ chứa nên thường thiếu nước sản xuất vào tháng 3 và tháng 4. Xã chưa có chợ.
- Sản xuất nông - lâm nghiệp: Năm 2014, diện tích lúa cả năm đạt 263,25 ha (lúa xuân 85,1 ha, năng suất 5,15 tấn/ha; lúa mùa 178,15 ha, năng suất 4,4 tấn/ha, tổng sản lượng 1.222,125 tấn). Diện tích ngô cả năm đạt 55,81 ha (ngô xuân 39,66 ha, ngô mùa 16,15 ha, sản lượng 223,976 tấn). Sắn đạt 20,3 ha với sản lượng 408,03 tấn. Tổng đàn vật nuôi năm 2014 gồm 848 con trâu, 162 con bò, 1.610 con lợn, 217 con dê, 4 con ngựa và 14.000 con gia cầm. Đàn dê và gia cầm sụt giảm so với năm 2013 do dịch lở mồm long móng và dịch bệnh gia cầm. Diện tích nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ với 16,74 ha. Lâm nghiệp khai thác được 84,5 m3 gỗ rừng trồng (xoan, trám) và 48 m3 cây phân tán (keo, bạch đàn).
- Diễn biến nghèo đói toàn xã giai đoạn 2012–2014:
| Chỉ tiêu |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
| Tổng số hộ của xã (hộ) |
543 |
554 |
562 |
| Số hộ nghèo (hộ) |
308 |
277 |
248 |
| Tỷ lệ hộ nghèo (%) |
56,72 |
50,00 |
44,13 |
| Số hộ cận nghèo (hộ) |
36 |
40 |
42 |
| Tỷ lệ hộ cận nghèo (%) |
6,63 |
7,22 |
7,47 |
| Kết quả giảm nghèo thực tế so kế hoạch (%) |
130,00 |
110,71 |
85,29 |
Năm 2014 xã không hoàn thành kế hoạch giảm nghèo (chỉ giảm được 29 hộ so với chỉ tiêu giao 34 hộ, đạt 85,29%) do thời tiết và dịch bệnh phức tạp. Tỷ lệ hộ nghèo phân bố không đều giữa 7 thôn: Ca Siều (63,24%), Bản Thàng (62,06%), Khuổi Hẩu (58,33%), Khuổi Kiếc (57,14%), Tồng Nộc (35,34%), Bắc Hóa (32,14%), Nà Lù (25,19%).
- So sánh các yếu tố sản xuất và sinh hoạt giữa 40 hộ nghèo và 20 hộ cận nghèo khảo sát:
- Trang bị tư liệu sản xuất: Máy cày (nghèo 20% vs cận nghèo 65%); máy xay xát (nghèo 5% vs cận nghèo 40%); máy bơm nước (nghèo 15% vs cận nghèo 25%); trâu bò cày kéo (nghèo bình quân 1,25 con/hộ vs cận nghèo 2,8 con/hộ); máy tuốt lúa đạt 100% ở cả hai nhóm.
- Nhà ở và tiện nghi: Hộ nghèo có 0% nhà kiên cố, 82,5% nhà bán kiên cố (nhà sàn) và 17,5% nhà tạm; hộ cận nghèo có 25% nhà kiên cố, 75% bán kiên cố, không còn nhà tạm. Tủ lạnh (nghèo 2,5% vs cận nghèo 50%); xe máy (nghèo 92,5% vs cận nghèo 120%); điện thoại di động (nghèo 200% vs cận nghèo 310%).
- Đất đai: Bình quân diện tích đất/khẩu của hộ nghèo là 2.433,6 m2, hộ cận nghèo là 2.769,47 m2. Đất trồng cây hàng năm bình quân/hộ của hộ nghèo là 3.293,93 m2 (bình quân 716,07 m2/khẩu), thấp hơn rõ rệt so với hộ cận nghèo là 3.858,06 m2/hộ (897,22 m2/khẩu). Đất thổ canh, thổ cư của hộ nghèo là 172,1 m2/hộ (37,41 m2/khẩu), của hộ cận nghèo là 200,65 m2/hộ (46,67 m2/khẩu). Đất lâm nghiệp chiếm trên 65% tổng quỹ đất của cả hai nhóm hộ.
- Nhân khẩu và học vấn: Hộ nghèo có quy mô 4,6 khẩu/hộ, 2,85 lao động/hộ và 1,5 khẩu phụ thuộc/hộ. Hộ cận nghèo có 4,3 khẩu/hộ, 3,1 lao động/hộ và 1,45 khẩu phụ thuộc/hộ. Về học vấn chủ hộ nghèo: 72,5% chỉ học cấp I, 27,5% học cấp II, 0% học cấp III. Nhóm chủ hộ cận nghèo: 45% học cấp I, 25% học cấp II, 30% học cấp III. Cả hai nhóm đều 0% có trình độ chuyên nghiệp. Tỷ lệ phụ thuộc ở nhóm hộ cận nghèo chiếm 33,72% (29/86 khẩu), cao hơn nhẹ so với nhóm hộ nghèo 32,62% (60/184 khẩu) do các hộ cận nghèo có điều kiện nuôi con em tiếp tục đi học.
- Vay vốn và sử dụng vốn tín dụng: Năm 2014, các hộ vay chủ yếu từ NHCSXH và NHNN&PTNT (lãi suất ưu đãi sản xuất 0,65%/tháng, hỗ trợ nhà ở 0,1%/tháng, thiếu đất sản xuất 0%). Có 23/40 hộ nghèo vay vốn (tổng số tiền 285 triệu đồng, bình quân 12,391 triệu đồng/hộ); có 8/20 hộ cận nghèo vay vốn (tổng số tiền 195 triệu đồng, bình quân 24,375 triệu đồng/hộ).
Bảng tổng hợp mục đích trên hợp đồng và thực trạng sử dụng vốn vay của các hộ:
| Chỉ tiêu |
Hộ nghèo (23 hộ vay) |
Hộ cận nghèo (8 hộ vay) |
| Mục đích vay trên hợp đồng |
|
|
| - Trồng trọt |
10 hộ (43,48%) |
2 hộ (25,00%) |
| - Chăn nuôi |
7 hộ (30,43%) |
5 hộ (62,50%) |
| - Học sinh, sinh viên |
2 hộ (8,70%) |
1 hộ (12,50%) |
| - Hỗ trợ nhà ở |
4 hộ (17,40%) |
0 hộ (0,00%) |
| Thực trạng sử dụng vốn thực tế |
|
|
| - Sử dụng đúng mục đích |
14 hộ (60,87%) |
6 hộ (75,00%) |
| - Sử dụng sai mục đích: Mua xe máy |
5 hộ (21,73%) |
2 hộ (25,00%) |
| - Sử dụng sai mục đích: Tổ chức đám cưới |
2 hộ (8,70%) |
0 hộ (0,00%) |
| - Sử dụng sai mục đích: Cờ bạc |
2 hộ (8,70%) |
0 hộ (0,00%) |
- Nguyên nhân đói nghèo:
- Nguyên nhân khách quan: Địa hình đồi núi dốc hiểm trở, độ cao trung bình 450 m gây xói mòn, hạn chế cơ giới hóa; khí hậu khắc nghiệt, biên độ nhiệt lớn (-1,0°C đến 37,3°C); thiếu công trình hồ chứa nước phục vụ tưới tiêu vụ xuân; dịch bệnh lở mồm long móng trên gia súc; hệ thống đường giao thông có tới 37,7 km đường đất gây khó khăn cho lưu thông nông sản.
- Nguyên nhân chủ quan: Trình độ học vấn của chủ hộ thấp (72,5% chủ hộ nghèo chỉ học cấp I) dẫn đến tiếp thu kỹ thuật canh tác chậm; thiếu vốn đầu tư máy móc; tình trạng tự để giống qua nhiều năm làm thoái hóa giống cây trồng và vật nuôi; có tới 39,13% hộ nghèo sử dụng vốn vay sai mục đích (mua xe máy, cưới hỏi, cờ bạc); tâm lý ỷ lại, trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước.
Phần 5: Định hướng và một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo tại xã Thiện Long
Tác giả đề xuất nhóm giải pháp định hướng và cụ thể gắn với điều kiện địa phương:
- Giải pháp chung: Phát huy nội lực của người dân kết hợp với các chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, xóa bỏ tư tưởng trông chờ ỷ lại trợ cấp.
- Giải pháp đối với chính quyền xã và các đoàn thể: Tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất thâm canh lúa, ngô và phòng trừ dịch bệnh; tăng cường kiểm tra, giám sát việc giải ngân và sử dụng nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH qua các hội, đoàn thể để đảm bảo người dân đầu tư đúng chuồng trại, cây con giống; đầu tư nâng cấp hạ tầng thủy lợi và từng bước cứng hóa mạng lưới đường liên thôn.
- Giải pháp đối với hộ gia đình: Chủ động tham gia tập huấn kỹ thuật; lập phương án sản xuất kinh doanh rõ ràng trước khi vay vốn; cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích; chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông - lâm kết hợp, đẩy mạnh trồng rừng kinh tế (cây quế, xưa, lát) và chăn nuôi nhốt chuồng có tiêm phòng dịch bệnh.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu định lượng, khóa luận đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng về thực trạng nghèo tại xã Thiện Long giai đoạn 2012–2014:
- Xác lập tỷ lệ giảm nghèo của xã Thiện Long từ 56,72% năm 2012 xuống 44,13% năm 2014, đồng thời làm rõ sự phân hóa sâu sắc giữa các thôn (thôn cao nhất là Ca Siều 63,24%, thấp nhất là Nà Lù 25,19%).
- Đo lường chi tiết sự thiếu hụt tư liệu sản xuất của nhóm hộ nghèo qua điều tra 60 hộ: Nhóm hộ nghèo chỉ có 20% hộ sở hữu máy cày (so với 65% ở nhóm cận nghèo); 5% có máy xay xát (so với 40%); diện tích đất cây hàng năm bình quân đạt 716,07 m2/khẩu (thấp hơn 181,15 m2/khẩu so với cận nghèo); 17,5% hộ nghèo còn ở nhà tạm và 0% có nhà kiên cố.
- Phát hiện thực trạng thất thoát mục đích sử dụng vốn tín dụng chính sách: Có tới 39,13% hộ nghèo vay vốn sử dụng sai mục đích ghi trên hợp đồng tín dụng, trong đó 21,73% dùng để mua xe máy, 8,70% dùng lo đám cưới và 8,70% rơi vào tệ nạn cờ bạc.
Về giải pháp và kiến nghị: Khóa luận đề xuất phân cấp trách nhiệm giữa cấp chính quyền cơ sở (tăng cường giám sát vốn vay, chuyển giao kỹ thuật) và hộ nông dân (tự giác xóa bỏ tệ nạn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang lâm nghiệp như trồng quế, xưa).
Về đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận là công trình nghiên cứu vi mô tại địa bàn xã vùng III Thiện Long, bổ sung dữ liệu điều tra thực địa kinh tế hộ cho Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn cho Đảng ủy, HĐND, UBND xã Thiện Long trong việc xây dựng kế hoạch giảm nghèo giai đoạn 2016–2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do điều kiện thời gian thực tập có hạn (từ 02/03/2015 đến 05/04/2015) và nguồn lực nghiên cứu cá nhân, tác giả chỉ tiến hành khảo sát chọn mẫu 60 hộ gia đình tại 4 trong tổng số 7 thôn của xã; chưa thực hiện điều tra toàn diện toàn bộ các thôn khó khăn còn lại. Số liệu kinh tế hộ chủ yếu phản ánh cắt ngang tại thời điểm năm 2014, chưa theo dõi biến động thu nhập qua nhiều chu kỳ sản xuất liên tục.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô khảo sát trên toàn bộ 7 thôn của xã; nghiên cứu tác động dài hạn của các mô hình kinh tế lâm nghiệp (trồng quế, gỗ xưa) đối với khả năng thoát nghèo bền vững; phân tích sâu hơn chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ nông - lâm sản địa phương khi hệ thống hạ tầng giao thông liên thôn được nâng cấp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế tài nguyên: Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận thiết kế bảng hỏi điều tra kinh tế hộ, phân tích mẫu phân tầng theo đặc thù địa hình miền núi và quy trình xử lý dữ liệu thống kê mô tả nông thôn.
- Cán bộ làm công tác giảm nghèo, khuyến nông tại huyện Bình Gia và các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng: Cung cấp bức tranh chi tiết về các rào cản nội tại của hộ nghèo dân tộc thiểu số, đặc biệt là hiện tượng sử dụng vốn vay sai mục đích, phục vụ việc xây dựng cơ chế quản lý vốn tín dụng chính sách tại cấp thôn bản.
- Phần đáng tham khảo nhất trong tài liệu: Hệ thống bảng số liệu điều tra so sánh các chỉ tiêu kinh tế, đất đai, nhà ở, lao động và hành vi vay vốn giữa hai nhóm hộ nghèo và cận nghèo tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng chuẩn nghèo nào để phân loại hộ nghèo và hộ cận nghèo tại địa bàn nghiên cứu?
Khóa luận áp dụng chuẩn nghèo giai đoạn 2011–2015 theo quy định chung của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đối với khu vực nông thôn: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 400.000 đồng/người/tháng; hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người từ 400.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.
2. Tỷ lệ hộ nghèo tại xã Thiện Long thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2012–2014 và tại sao năm 2014 không đạt kế hoạch?
Trong giai đoạn 2012–2014, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm từ 56,72% (308 hộ) năm 2012 xuống 50,00% (277 hộ) năm 2013 và còn 44,13% (248 hộ) năm 2014. Năm 2014 xã không đạt kế hoạch đề ra (chỉ giảm được 29 hộ so với kế hoạch giao 34 hộ, đạt 85,29%) do điều kiện thời tiết hạn hán, dịch bệnh gia súc gia cầm diễn biến phức tạp và sự tiếp cận chính sách của nhóm hộ nghèo còn hạn chế.
3. Khảo sát 60 hộ gia đình cho thấy sự chênh lệch lớn nhất về tư liệu sản xuất giữa hộ nghèo và cận nghèo ở những điểm nào?
Sự khác biệt rõ nét nhất thể hiện ở tỷ lệ sở hữu máy móc nông nghiệp và nguồn lực đất đai: Nhóm hộ nghèo chỉ có 20% hộ có máy cày (hộ cận nghèo là 65%), 5% có máy xay xát (hộ cận nghèo là 40%), bình quân trâu bò cày kéo đạt 1,25 con/hộ (hộ cận nghèo đạt 2,8 con/hộ). Diện tích đất trồng cây hàng năm bình quân của hộ nghèo chỉ đạt 716,07 m2/khẩu, thấp hơn đáng kể so với 897,22 m2/khẩu của hộ cận nghèo.
4. Thực trạng sử dụng vốn vay ưu đãi của nhóm hộ nghèo tại xã Thiện Long có điểm gì đáng lưu ý?
Trong số 23 hộ nghèo vay vốn ngân hàng chính sách được khảo sát, có tới 9 hộ (chiếm 39,13%) sử dụng vốn sai mục đích cam kết trên hợp đồng. Cụ thể: 5 hộ dùng tiền vay mua xe máy (21,73%), 2 hộ dùng chi trả chi phí đám cưới (8,70%) và 2 hộ sử dụng vào tệ nạn cờ bạc (8,70%).
5. Địa phương có tiềm năng phát triển ngành sản xuất nào để nâng cao thu nhập cho hộ dân theo nhận định của tác giả?
Tác giả xác định lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế then chốt của xã do diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 61,78% diện tích tự nhiên (3.389,45 ha) và đất chưa sử dụng còn lớn (1.193,26 ha). Địa phương đã bắt đầu ươm và trồng các loại cây có giá trị kinh tế như cây quế, cây xưa, lát, trám, mở ra hướng thoát nghèo bền vững ngoài sản xuất lúa ngô truyền thống.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Chanh đã phản ánh chi tiết thực trạng đói nghèo tại xã vùng III Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012–2014 thông qua hệ thống dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực chứng 60 hộ gia đình. Nghiên cứu chỉ rõ mặc dù tỷ lệ nghèo của xã đã giảm từ 56,72% xuống 44,13%, tình trạng nghèo đói vẫn còn nghiêm trọng do sự thiếu hụt đất sản xuất hàng năm, tỷ lệ chủ hộ có trình độ văn hóa cấp I lên tới 72,5% và tình trạng 39,13% hộ nghèo sử dụng sai mục đích vốn vay ưu đãi. Các giải pháp do tác giả đề xuất nhấn mạnh vào việc kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn vay, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thâm canh, phát triển lâm nghiệp kinh tế kết hợp với nâng cao ý thức tự vươn lên của người dân nông thôn miền núi.