PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong lịch sử xã hội loài ngƣời, nhất là từ khi có giai cấp đến nay, vấn đề đói nghèo đã xuất hiện và tồn tại nhƣ một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và nền văn minh hiện đại. Do vậy, nghèo đói và chống nghèo đói là vấn đề toàn cầu , là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới nói chung và Viê ̣t Nam nói riêng. Trong những năm qua, tỉnh Hà Giang đã có nhiều nỗ lực, cố gắng khắc phục khó khăn và đã đạt đƣợc những thành tựu rất quan trọng, toàn diện trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, công tác xoá đói giảm nghèo nói riêng.
Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ hộ đói nghèo vẫn còn cao. Năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh vẫn ở mức trên 30%, đặc biệt có những huyện vùng cao tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 50%. Vì vậy, “Hà Giang vẫn là tỉnh nghèo, chƣa thoát ra khỏi tình trạng của một tỉnh đặc biệt khó khăn”. Việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Tỉnh Hà Giang mặc dù có những tiến bộ, xong vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.
Chẳng hạn, sự thiếu tính đồng bộ, thống nhất cả về nhận thức và hành động; công tác triển khai thực hiện, đánh giá và giám sát việc thực thi chính sách còn yếu. Hệ thống chính sách chƣa thực sự tạo ra động lực mạnh mẽ để ngƣời nghèo thoát nghèo. Thành tựu giảm nghèo thiếu tính bền vững.chƣa tìm ra những giải pháp thiết thực phù hợp với đặc điểm tình hình của tỉnh miền núi, đa dân tộc. Có thể nói, tình trạng đói nghèo ở tỉnh Hà Giang đang là một vấn đề bức xúc, cần đƣợc quan tâm giải quyết.
Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Hà Giang để phát hiện, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả xóa đói, giảm nghèo ở Tỉnh Hà Giang vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ những lý do 1 z này, học viên chọn đề tàì: " Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang " * Câu hỏi nghiên cứu Làm thế nào để nâng cao hiệu quả khi thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang ? 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo và khảo sát thực trạng thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang, luận văn đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách này ở Hà Giang đến năm 2020.
Nhiệm vụ - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo và thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo. - Phân tích thực trạng chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Hà Giang hiện nay, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của nó trong việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Hà Giang từ 2006 – 2013. - Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh và thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang đến năm 2020. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trên phạm vi toàn tỉnh Hà Giang; đặc biệt là tập trung khảo sát sâu trên một số địa bàn cấp huyện vùng cao, nơi thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo diễn ra khó khăn nhất.
2 z Thời gian nghiên cứu: Từ 2006 - 2013. Cấu trúc luận văn Bố cục của luận văn bao gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của chính sách xóa đói giảm nghèo Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang trong những năm tiếp theo. 3 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1.
Khái niệm chính sách xóa đói giảm nghèo Chính sách xóa đói giảm nghèo có thể hiểu là những quyết định, quy định của nhà nƣớc đƣợc cụ thể hóa trong các chƣơng trình, dự án, cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào các đối tƣợng cụ thể là ngƣời nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo. với mục đích cuối cùng là xóa đói giảm nghèo. Từ chính sách xóa đói giảm nghèo ta có thể nhận diện khái niệm liên quan đến đói, nghèo. Nghèo là tình trạng một số bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời, mà những nhu cầu này đã đƣợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển và phong tục tập quán của từng địa phƣơng.
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Hay nói một cách khác, đói là một nấc thang thấp nhất của nghèo. Chuẩn nghèo (hay còn gọi là đƣờng nghèo, ngƣỡng nghèo, hoặc tiêu chí nghèo): Là công cụ để phân biệt ngƣời nghèo và ngƣời không nghèo, đồng thời là công cụ để đo lƣờng và giám sát nghèo đói. Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu.
Những ngƣời đƣợc coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chuẩn nghèo. Sự cần thiết của chính sách xóa đói giảm nghèo Nhƣ chúng ta đã biết đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn là vấn đề chính trị - xã hội và là một trong những nội dung cơ bản trong phát triển kinh tế bền vững ở mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Giải quyết tình trạng đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội vừa 4 z cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo đảm phát triển kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội. Do đó trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhà nƣớc đã xây dựng đƣợc các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chƣơng trình xoá đói giảm nghèo vì vậy cần có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
Xuất phát từ điều kiện thực tế nƣớc ta hiện nay, xoá đói giảm nghèo về kinh tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo về văn hoá, xã hội. Thực hiện thành công chính sách xoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho ngƣời nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trƣởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nƣớc. Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội. Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vƣơn lên trong cuộc sống, giảm đƣợc khoảng trống ngăn cách giữa ngƣời giàu với ngƣời nghèo, từ đó có lòng tin vào đƣờng lối và chủ trƣơng của đảng và Nhà nƣớc.
Đồng thời hạn chế và xoá bỏ đƣợc các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Nhƣ vậy có thể nói chính sách xóa đói, giảm nghèo đã trở thành một chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà nƣớc ta và là một nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 1. Các loại chính sách Trên cơ sở những quan điểm, chủ trƣơng của Đảng, các nghị quyết của Quốc Hội, Chính phủ đã cụ thể hoá bằng những cơ chế chính sách, chƣơng trình dự án và kế hoạch hàng năm nhằm mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế, trợ 5 z giúp ngƣời nghèo nhƣ: Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về việc làm; Chƣơng trình 327 về phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, sau này đƣợc thay thế bằng Chƣơng trình 661 và Dự án trồng 5 triệu ha rừng.
Đặc biệt Chính phủ đã phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010; giai đoạn 2011 - 2020. Cụ thể nhƣ sau: Giai đoạn 2006 - 2010: Với chƣơng trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo đƣợc thể hiện trong (Phụ lục 2). Bên cạnh chƣơng trình giảm nghèo quốc gia, CT 135 tiếp tục đƣợc giai đoạn 2 trên cơ sở điều chỉnh CT 135 giai đoạn 1, với mục đích tiếp tục hỗ trợ cho các xã đặc biệt khó khăn. Thêm vào đó, sau một thời gian khá dài thực hiện các chính sách giảm nghèo, đặc biệt có chính sách riêng cho các đối tƣợng đặc biệt nhƣ dân tộc thiểu số, tình trạng đói nghèo chƣa đƣợc cải thiện đáng kể.
Vì vậy, năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã tập trung giải quyết những nơi nghèo nhất, đó chính là các huyện nghèo nhất trên cả nƣớc thông qua chƣơng trình "Hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo". Trong đó, tập trung vào chính sách hỗ trợ nhà ở cho ngƣời nghèo, hỗ trợ sản xuất, phát triển CSHT và đào tạo dạy nghề. Giai đoạn 2011 - 2020: Chính phủ Ban hành Nghị quyết số 80/NQ - CP, ngày 19/5/2011 về định hƣớng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 - 2020. Chính phủ đã đƣa ra mục tiêu: Giảm nghèo bền vững là một trong những trọng tâm của Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, nhằm cải thiện và từng bƣớc nâng cao điều kiện sống của ngƣời nghèo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cƣ.
Thu nhập của hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nƣớc giảm 2%/năm, riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đƣợc tập trung đầu tƣ đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới".