phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương theo chi tiết dưới đây: (LUAN.phap -3- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phap CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM 1. Khái luận về đói nghèo. Mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế, bất bình đẳng và vấn đề đói nghèo. Các thước đo đánh giá tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Thước đo mức độ tăng trưởng và nhu cầu xã hội của con người: Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến sự phát triển bền vững của đất nước mà nội dung của sự phát triển bền vững trước hết là đảm bảo tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về thu nhập của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế được đánh giá bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Hai chỉ tiêu này đều phản ánh toàn bộ giá trị sản phẩm cuối cùng và dịch vụ do các hoạt động của nền kinh tế tạo ra, chúng chỉ khác nhau về phạm vi tính toán.
Tăng trưởng kinh tế có thể tính bằng mức gia tăng tuyệt đối, xác định qui mô tăng trưởng kinh tế (AY = Yt – YO). Tăng trưởng kinh tế cũng có thể tính bằng mức gia tăng tương đối, xác định tốc độ tăng trưởng kinh tế (g = AY /AYO). Để so sánh, xếp loại mức độ tăng trưởng của các nước, Liên hợp quốc và ngân hàng Thế giới sử dụng chỉ tiêu mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GNP/người). Chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập bình quân đã được điều chỉnh theo sự biến động của dân số, phản ánh khả năng đảm bảo nhu cầu vật chất cho người dân.
Phát triển kinh tế được hiểu là sự biến đổi nền kinh tế về mọi mặt, bao gồm sự biến đổi qui mô sản lượng của nền kinh tế kèm theo sự biến đổi về cơ cấu kinh tế và sự biến đổi về mặt xã hội của con người.phap -4- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phap Con người không chỉ có những nhu cầu về vật chất mà còn có nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ, nhu cầu được học hành, nâng cao trình độ tri thức và chuyên môn, cũng như có nhu cầu về công ăn việc làm. Như vậy tăng trưởng kinh tế và đáp ứng nhu cầu xã hội cho con người là hai mặt cơ bản trong nội dung phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cơ bản để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người. Còn việc mang lại ấm no và thoả mãn nhu cầu xã hội cho con người là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế.
Đối với một đất nước, để đo nhu cầu xã hội của con người có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu, những chỉ tiêu cơ bản là: - Các chỉ tiêu phản ánh mức độ chăm sóc sức khoẻ: tuổi thọ bình quân, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, tỷ lệ trẻ em được tiêm phòng dịch, số người dân trên một bác sĩ, tỷ lệ chi công cộng cho sức khoẻ trong tổng chi tiêu công cộng của chính phủ. - Các chỉ tiêu phản ánh trình độ văn hoá - giáo dục: tỷ lệ người biết chữ, số năm đi học bình quân, tỷ lệ chi cho giáo dục trong tổng chi ngân sách của nhà nước. Để so sánh trình độ phát triển của các nước, Liên hợp quốc đã sử dụng chỉ tiêu GNP/người. Nhưng thực tế cho thấy không phải nước nào có thu nhập cao thì trình độ dân trí cũng cao.
Chính vì vậy, năm 1990, cơ quan phát triển con người của Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI). Đây là chỉ tiêu kết hợp và lượng hoá từ ba chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người, đó là: chỉ tiêu tuổi thọ bình quân, trình độ văn hoá (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học bình quân) và chỉ tiêu GNP/người. Chỉ số HDI được đưa ra để so sánh trình độ phát triển của các nước đã làm đảo lộn vị trí của nhiều nước so với cách xếp hạng theo chỉ tiêu GNP/người. Chỉ số HDI đã chỉ rõ nhiều nước có thu nhập cao, nhưng do (LUAN.phap -5- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phap chính sách kinh tế - xã hội không chú ý đến việc nâng cao dân trí một cách thích đáng, nên vị trí của các nước đó xếp theo HDI lại giảm; còn một số nước khác tuy thu nhập thấp hơn, nhưng giáo dục, y tế được chú ý phát triển nên vị trí xếp hạng theo HDI lại tăng lên.
Thước đo mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập. Bên cạnh các chính sách kinh tế - xã hội đã được đề cập đến qua chỉ số HDI, một số vấn đề khác cũng cần được xem xét là vấn đề phân phối thu nhập. Thực tế cho thấy ở nhiều quốc gia sau một thời gian, mặc dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế rõ rệt, nhưng đời sống của nhiều người dân vẫn ở mức nghèo khổ, thất nghiệp gia tăng và ở một số nước số đông người dân không được hưởng thành quả do tăng trưởng đem lại, trong khi nhóm người giầu có vẫn tiếp tục giầu lên. Rõ ràng tăng trưởng là điều kiện cần nhưng chưa đủ để cải thiện đời sống vật chất và các vấn đề xã hội cho nhân dân.
Có thể đo được mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập hay không? Các nhà kinh tế học và xã hội học đã đưa ra nhiều cách đo, nhưng một trong những công cụ biểu đạt mức độ bất bình đẳng được sử dụng trong kinh tế học là đường cong Lorenz mang tên nhà kinh tế học nêu lên học thuyết này và hệ số gini mang tên nhà thống kê học đã đưa ra hệ thống này. Để nghiên cứu mức độ chênh lệch trong phân phối thu nhập, người ta chia dân số của một nước ra làm 5 nhóm mỗi nhóm là 20 % dân số, từ nhóm có thu nhập thấp nhất đến nhóm có thu nhập cao nhất. Và thông thường, thu nhập của nhóm người nghèo bao giờ cũng được quan tâm trước tiên. Mọi người thường xem xét: tỷ lệ % trong tổng thu nhập của 10%, 20%, 50 % dân số có thu nhập thấp nhất là bao nhiêu.
Ví dụ: Số liệu thu thập được trong năm 1990 của Malaixia phân theo 5 nhóm thu nhập như sau: - 20 % dân số có thu nhập thấp nhất chiếm 4,6 % tổng thu nhập.phap -6- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phap - 20 % dân số có thu nhập thấp chiếm 9,3 % tổng thu nhập. - 20 % dân số có thu nhập trung bình chiếm 13,9 % tổng thu nhập. - 20 % dân số có thu nhập cao chiếm 21,2 % tổng thu nhập. - 20 % dân số có thu nhập cao nhất chiếm 51,2 % tổng thu nhập.
Đường cong Lorenz được biểu thị trong một hình vuông mà trục tung là % của thu nhập cộng dồn và trục hoành là % của các nhóm dân cư sắp xếp theo thứ tự mức thu nhập tăng dần. Đường cong Lorenz chỉ ra tỷ lệ % của tổng thu nhập cộng dồn theo tỷ lệ % cộng dồn của người nhận. % thu nhập B cộng dồn Đường bình đẳng a Đường cong Lorenz A O % dân số cộng dồn Đồ thị 1 Giả sử ở một cực nếu thu nhập được phân phối tuyệt đối bằng nhau thì cứ 20 % dân số sẽ nhận 20 % thu nhập, có nghĩa là không có người giầu, người nghèo, đường cong Lorenz trong trường hợp này sẽ là đường chéo (cũng gọi là đường 45 độ). Ở cực kia đưa ra giả thiết về sự bất bình đẳng tuyệt đối, khi hầu như tất cả mọi người không có thu nhập gì (ví dụ 99 trong số 100 người) và 1 người còn lại chiếm toàn bộ thu nhập đường cong Lorenz sẽ chạy theo cạnh đáy và đường vuông góc bên phải.
Cả hai cách phân phối này đều không có trong thực tế và bất kỳ sự phân phối thực tế nào cũng đều nhằm vào giữa hai cực này. Nếu thu nhập của nhóm người nghèo giảm đi và thu nhập của (LUAN.phap -7- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phap nhóm người giầu tăng lên thì đường cong Lorenz càng cách xa đường 45 độ, có ý nghĩa là sự bất bình đẳng gia tăng. Ngược lại khi thu nhập của nhóm người nghèo tăng lên và của nhóm người giầu giảm đi thì đường cong Lorenz sẽ gần với đường 45 độ hơn, có nghĩa là sự bất bình đẳng giảm bớt. Dựa trên cơ sở đường cong Lorenz các nhà thống kê học cũng tìm ra một thước đo có thể biểu diễn cụ thể hơn và lượng hoá được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đó là hệ số gini.
Hệ số gini được tính toán trên cơ sở đường cong Lorenz. Nếu phần diện tích được giới hạn bởi đường 45 độ và đường cong lorenz được ký hiệu là (a) thì hệ số gini được tính như sau: Diện tích (a) Hệ số Gini = Diện tích tam giác OAB (Xem đồ thị 1) Có thể thấy rằng, về mặt lý thuyết giá trị của hệ số gini là từ 0 (hoàn toàn bình đẳng) đến 1 hoàn toàn bất bình đẳng. Nhưng thực tế giá trị của hệ số gini chỉ nằm trong khoảng từ 0 đến 1, (0 <hệ số Gini <1). Dựa vào những số liệu thống kê nhiều năm của nhiều nước ngân hàng Thế giới nhận thấy rằng, trong thực tế giá trị của hệ số Gini thay đổi trong phạm vi hẹp hơn từ 0,2 – 0,65 và đối với những nước có thu nhập thấp hệ số Gini biến động từ 0,3 – 0,5 đối với những nước có thu nhập trung bình, hệ số Gini biến động từ 0,4 – 0,65; và đối với những nước có thu nhập cao thì hệ số này biến động trong khoảng từ 0,2 – 0,4.
Từ đó ngân hàng Thế giới cũng đưa ra nhận xét rằng hệ số Gini tốt nhất thường xoay quanh mức 0,3. Phần lớn các quốc gia thuộc thế giới thứ ba có hệ số Gini tính theo mức chi tiêu hoặc mức thu nhập đều giao động trong khoảng 0,3 – 0,6. So sánh hệ số Gini về chi tiêu bình quân đầu người của Việt nam và một số nước trên thế giới được phản ánh như sau: (LUAN.phap -8- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.