Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Jamal và Getz (1995), trong nghiên cứu Lý thuyết hợp tác và lập kế hoạch du lịch cộng đồng, Lịch sử nghiên cứu du lịch, trang 186 - 204. Bài viết này áp dụng cho các cau trúc lý thuyết của sự hợp tác với các điểm du lich và cung cấp cái nhìn sâu sắc vào sự phối hợp tô chức cho một lĩnh vực du lịch cụ thể, quy hoạch và phát triển của địa phương, các điểm đến du lịch dựa vào cộng đồng.
Đầu tiên bài viết đề cập đến thách thức và cân nhắc trong quy hoạch phát triển các khu du lịch địa phương. Tiếp theo là các ví dụ về nghiên cứu hợp tác dựa vào cộng đồng. Từ đó đưa ra các kiến nghị sáng kiến hợp tác và điều tra các ứng dụng của lý thuyết cộng tác quy hoạch và phát triển các khu du lịch, từ góc độ cộng đồng tham gia. Van der Zee và Vanneste (2015), trong nghiên cứu xây dựng mạng lưới du lịch; tổng quan tài liệu về mạng lưới trong nghiên cứu quản lý du lịch đã làm rõ hơn lý do tại sao những tuyên bố lý thuyết đầy hứa hẹn về lợi ích tiềm năng của sự hợp tác nối mạng tại các điểm đến du lịch lại ít được hỗ trợ bởi bằng chứng thực nghiệm.
Bài báo này chỉ ra rằng có hai cách giải thích cho việc thiếu các lợi ích đã được chứng minh bằng thực nghiệm. Đầu tiên, tiến độ bị cản trở do thiếu sự tích hợp trong lĩnh vực nghiên cứu mạng lưới du lịch. Phân tích trích dẫn xác định sự tồn tại của các tiểu lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Các tiểu lĩnh vực này áp dụng các cách tiếp cận khác nhau đối với mạng lưới du lịch, cả từ góc độ lý thuyết và phương pháp luận.
Có rat ít sự trao đôi chéo giữa các lĩnh vực phụ và các nghiên cứu tích hợp vẫn còn khan hiếm. Thứ hai, trong khi nhiều nghiên cứu cho thấy những phát hiện thú vị và đầy hứa hẹn, lĩnh vực này sẽ đạt được nhiêu tiên bộ hơn, nêu các nhà nghiên cứu phản ánh một cách có hệ thống hơn về mối quan hệ giữa các mục tiêu của mạng và kết quả dự kiến, cũng như về phương pháp phù hợp nhất dé kiêm tra tác động của sự phát triển mang mong muốn một cách toàn diện. Vì các mạng phát triển dựa trên triển Vọng về lợi ích trong tương lai tích lũy từ sự tham gia của mạng, nên cần có bằng chứng thực nghiệm về các kết quả này của mạng. Các ví dụ về các phương pháp hay nhất nên được cung cấp để trực quan hóa và giải thích các lợi ích của mạng.
Lợi ích hữu hình, định lượng phải được tìm thấy đề kích thích các doanh nhân du lịch đầu tư thời gian và tiền bạc vào mạng lưới du lịch địa phương. Nghiên cứu của Asero và cộng sự (2016) đã xác định mạng lưới du lịch và phân tích cách khách du lịch di chuyền giữa các điểm đến. Phương pháp sử dụng là phân tích mạng và thử nghiệm chiến lược xử lý dữ liệu kết hợp với các phép đo mô tả và công cụ phân cụm. Dữ liệu được thu thập từ cuộc khảo sát lay mẫu trong chuyến thăm của khách du lịch ở Sicily.
Kết quả cho thấy, khách du lịch xây dựng mạng lưới riêng xung quanh các điểm đến nút, ngay cả khi có khoảng cách về mặt địa lý. Sự lựa chọn của khách du lịch định nghĩa vai trò của các điểm đến trong mạng lưới, có thể là "trung tâm" hoặc "ngoại v1". Sự di chuyên của khách du lịch ảnh hưởng đến hình dạng, kích thước và cau trúc của mạng lưới, với các khách du lịch có đặc điểm và hành vi liên quan đến chuyến đi và loại kỳ nghỉ được chọn. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng hữu ích cho việc lập kế hoạch các cơ sở du lịch, quản lý tuyến du lịch và xác định các chiến lược quản lý điểm đến.
Những thông tin này giúp cải thiện quy hoạch du lịch và tăng cường hiệu quả hoạt động du lịch trong khu vực, đồng thời đáp ứng đúng nhu cầu và yêu cầu của khách du lịch. Một bài viết khác về vai trò của các cơ chế xây dựng lòng tin trong việc tham gia vào mạng lưới hợp tác: Trường hợp mạng lưới du lịch ở Ba Lan của Czakon và Czernek (2016), cho rằng các nghiên cứu hiện có giải quyết van đề hợp tác mạng từ quan điểm của tác nhân trung tâm, khiến các thành viên khác nằm ngoài phạm vi chú ý. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả mong muốn phát triển sự hiểu biết về tuân thủ hợp tác mạng bằng cách khám phá vai trò của các cơ chế xây dựng lòng tin. Các cuộc phỏng vấn với 66 bên liên quan chính tại một điểm đến du lịch miền núi đã được phân tích thông qua lăng kính của năm cơ chế xây dựng lòng tin.
Kết quả chỉ ra rằng việc chuyền nhượng bang cách hợp pháp hóa bên thứ ba và danh tiếng trong mạng đóng một vai trò quan trọng trong quyết định tham gia hợp tác mạng. Ngược lại, niềm tin có tính toán, dựa trên khả năng và dựa trên ý định được chứng minh là khó phát triển và hiếm khi được sử dụng. Bai báo này thảo luận về ý nghĩa lý thuyết và quản lý của những phát hiện này đối với sự hợp tác mạng trong du lịch. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Thúy Duyên (2023), trong nghiên cứu của mình đã phân tích thực trạng phát triển du lịch ở huyện Cam Xuyên ở các mặt: hoạt động quản lí nha nước về du lịch; cơ sở vật chất — kĩ thuật du lịch; môi trường tại các điểm và khu du lich; hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch.
Bằng phương pháp quan sát, thực địa, tong hợp, phân tích và xử lí thông tin, bài viết chỉ ra một số van dé bat cập, như: cơ sở vật chat — Kĩ thật du lịch còn yếu và thiếu, hoạt động quản lí chưa thực sự hiệu quả, chưa có sự đầu tư đúng mức về quảng bá du lịch, nhiều hoạt động du lịch còn gây ô nhiễm môi trường. Từ kết quả nghiên cứu này, bài viết đề xuất một số biện pháp phát triển du lịch ở huyện Cam Xuyên: hoàn thiện cơ chế chính sách nhà nước về hoạt động du lịch, đây mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất — kĩ thuật du lịch, bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch và day mạnh hoạt động thông tin, quảng bá du lịch. Trần Thu Phương và cộng sự (2023) trong nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Vĩnh Phúc đã khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Du lịch trong nền kinh tế, ngày càng nhiều quốc gia, địa phương coi trọng phát triển du lịch, coi du lịch là động lực chính dé phát triển kinh tế-xã hội. Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành một trong những yếu tố quan trọng, quyết định thành công về dài hạn của một quốc gia hay điểm đến du lịch trong việc thu hút khách.
Bài viết dựa trên mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch được phát triển làm nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh gồm 05 yếu tổ là: sự hap dẫn của điểm đến, cơ sở hạ tang và vật chat kỹ thuật, sản phẩm và dịch vụ du lịch, công tác quản lý điểm đến và nguồn nhân lực dé phân tích sức hap dẫn của điểm du lịch Vinh Phúc. Đỗ Thị Thanh Hoa (2017) với đề tài Nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu du lịch sinh thái ở Việt Nam đã rút ra được những kết luận quan trọng như: Hiện nay ở Việt Nam, loại hình du lịch sinh thái phát triển khá mạnh mẽ, không chỉ thu hút các thị trường khách quốc tế mà còn nhận được sự quan tâm, tham gia của thị trường khách du lịch nội địa. Nhiều khu du lịch sinh thái cũng đã đặt ra những tiêu chuẩn, tiêu chí hướng tới bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Tuy nhiên thực tế phát triển cho thấy, một bộ phận không nhỏ các “khu du lịch sinh thái” mới chỉ theo trào lưu phát triển, không đáp ứng day đủ các tiêu chí của một khu du lịch sinh thái nhưng vẫn núp dưới bóng của loại hình này đề hoạt động kinh doanh, đánh lừa những du khách thiếu thông tin, kiến thức.
Điều không mong muốn và rất nguy hiểm là số lượng mô hình “khu du lịch sinh thái” kiểu này lại đang phát triển mạnh, vượt trội so với loại hình du lịch sinh thái đích thực, đúng nghĩa của nó. Việt Nam đã có một số quy định chung về các khu, điểm du lịch được quy định tại Luật du lịch, nghị định hướng dẫn thi hành Luật du lịch, Luật đầu tư, một số nghiên cứu khoa học có liên quan như tiêu chí xây dựng các khu du lịch, tiêu chí xây dựng các đô thị du lịch, tiêu chuẩn quy hoạch ngành. Tuy nhiên chưa có quy định, tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thé nào cho xây dung, thiết lập khu du lịch sinh thái, chưa có những phân biệt rõ các loại hình khu du lịch sinh thái. Nguyễn Trọng Nhân và Lê Thông (2011) với bài viết “Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái vườn quốc gia Tràm Chim tỉnh Đồng Tháp” được trên Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ đã cho rằng du lịch trọng điểm là một lĩnh vực mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia nhưng việc phát triển du lịch chỉ chú trọng tới lợi ích kinh tế mà thiếu quan tâm đến vấn đề môi trường, bảo tồn tài nguyên tất yếu sẽ liên quan đến các vấn đề văn hóa xã hội mà trong đó, lợi nhuận từ du lịch cũng không thể đủ dé giải quyết những hậu qua mà nó dé lại.
Do đó dé khắc phục van dé “lợi bat cập hại” này, một trong những cách thức khá hữu hiệu là day mạnh phát triển du lịch sinh thái ở những địa bàn thích hợp. Theo kết quả điều tra xã hội học của đề tài thì phần lớn du khách cho rằng Vườn quốc gia Tràm Chim hấp dẫn họ bởi có cảnh quan đẹp, môi trường hoang sơ, có hệ sinh thái đất ngập nước điển hình vùng Đồng Tháp Mười, có Sếu đầu đỏ. Hệ thống giao thông đường bộ đến Vườn quốc gia Tràm Chim khá thuận lợi và hệ thống cung cấp điện, nước; hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn huyện Tam Nông nói chung, vùng đệm Vườn quốc gia nói riêng khá hoàn chỉnh.