CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Commented [TM1]: 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến việc làm cho NDBTHĐ Nghiên cứu của Akram -Lodhi, A Haroon (1988) trong cuốn Land Markets and Rural Livelihoods in Vietnam. Land, Poverty and Livelihoods in an Era of Globalization:Perspectives from Developing and Transition Countries, (Thị trường đất đai và sinh kế nông thôn ở Việt Nam.
Đất đai, Nghèo đói và Sinh kế trong Kỷ nguyên Toàn cầu hóa: Quan điểm từ các nước đang phát triển và chuyển đổi) [120]. Nghiên cứu của Akram - Lodhi cho rằng, “người không có đất ở nông thôn đang tăng nhanh, những người này bị cách ly ra khỏi phương tiện sản xuất (PTSX) và sinh sống bằng cách bán sức lao động (SLĐ) của mình là những người nghèo nhất trong KVNT” [120], có rất nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng có nguyên nhân chính là nông dân mất đất, mà đất đai là TLSX chủ yếu của người nông dân, là nguồn sinh kế chủ yếu, là cơ sở để TVL, tạo thu nhập và ASXH, ảnh hưởng của mất đất SXNN tới sinh kế, việc làm của NND. Đòi hỏi QLNN có giải pháp phù hợp khi THĐ của nông dân để tiến hành CNH – HĐH. Nghiên cứu của Dasgupta, Partha, and Debraj Ray (1986) trong cuốn Inequality as a Determinant of Malnutrition and Unemployment (Sự bất bình đẳng là một yếu tố quyết định tình trạng suy dinh dưỡng và thất nghiệp) [128].
Nghiên cứu của Dasgupta, Partha, and Debraj Ray cho rằng, “mối liên hệ giữa thị trường đất đai (TTĐĐ) và TTLĐ” [128]. Nghiên cứu chỉ ra rằng, “tồn tại tổn thất về phúc lợi khi có độ trễ hay khoảng cách trong sự điều chỉnh TTLĐ và sự biến động trong TTĐĐ, khi mức lương bị giảm do cải cách ruộng đất, NND bán đất để thoát cảnh khó khăn” [128]. Giả sử “quyết định bán đất được đưa ra trước khi đạt điểm cân bằng mới trên TTLĐ mới mà kết quả này thường không đoán được và chi phí giao dịch khá lớn để người mua có thể mua lại đất. luan an 11 Nếu nhiều người bán quyền sử dụng đất, thì lượng cung toàn TTLĐ sẽ tăng lên làm cho mức lương giảm xuống” [128].
Nghiên cứu của tác giả Dfids (2006) trong cuốn Sustainable Livelihoods Guidance Sheets (Bảng hướng dẫn về sinh kế bền vững của DFID) [129]. Dfids cho rằng có 5 vốn sinh kế, đồng thời tác giả chỉ ra “một sinh kế muốn bền vững thì khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hoặc có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở thởi điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm sói mòn nguồn lực tự nhiên” [129]. Nghiên cứu của Dfids đưa ra biến đổi trong các chế độ sở hữu đất hay tiếp cận đất đai dường như sẽ ảnh hưởng đến sinh kế bền vững (SKBV) của người nông dân. 5 loại vốn sinh kế mà tác giả chỉ ra, bao gồm: “vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người, vốn tự nhiên”.
Có nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên, bao gồm cả các nguồn lực đất đai. Quyền sử dụng đất hàm chứa nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng như một PTSX, một nguồn thu nhập và một loại tài sản có giá trị, đặc biệt là đối với những người sinh sống ở các KVNT và ven đô, đất đai là nguồn tài sản có giá trị nhất và là một loại TLSX quan trọng để đạt được mục tiêu sinh kế. Vì thế, biến đổi trong các chế độ sở hữu đất đai hay tiếp cận đất đai dường như sẽ ảnh hưởng đến an ninh sinh kế của NND. Những loại vốn SKBV là cơ sở để nghiên cứu các giải pháp QLNN về GQVL bền vững của luận án.
Nghiên cứu của FilipePaulo (2005) trong cuốn The right to land a livelihood: The dynamics of land tenure systems in Conda, Amboim and Sumbe municipalities (Quyền có đất để sinh kế: Động lực của hệ thống sở hữu đất ở các thành phố tự trị Conda, Amboim và Sumbe) [131]. Nghiên cứu của FilipePaulo cho rằng khung SKBV coi đất đai là tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn và ẩn trong khung SKBV là một lý thuyết cho rằng con người của chúng ta thường dựa vào năm loại tài sản vốn hay hình thức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh, đảm bao sinh kế của mình. Năm loại tài sản vốn gồm: vốn vật chất (physicalcapital), vốn tài chính (financial capital), luan an 12 vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital) đây là những loại vốn đóng cả hai vai đầu vào và đầu ra. Nghiên cứu chỉ ra tiếp cận SKBV cũng thừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế.
Nghiên cứu của Cernea, Micheal (1988) trong cuốn: “Involuntary Resettlement in DevelopmentProjects: Policy Guidelines in World Bank Financed Project” (Tái định cư không bắt buộc trong các dự án phát triển: Hướng dẫn chính sách trong dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ) [126]. Nghiên cứu của Cernea, Micheal chỉ ra rủi ro mà nông dân ở các khu tái định cư phải đương đầu, khiến họ trở lên bị nghèo sau các dự án phát triển. Đối mặt với nó là các nguy cơ bao gồm nguy cơ mất đất, thất nghiệp, vô gia cư, rơi vào ngưỡng nghèo, tăng tình trạng bệnh tật và tử vong, thiếu an ninh lương thực, không tiếp cận được các tài sản chung, và sự chia tách các mạng lưới xã hội. Ngoài ra người NDBTHĐ còn chịu ảng hưởng nặng nề bởi thiệt hại về vật chất.
Nghiên cứu của Cernea, Micheal chỉ ra tùy vào lĩnh vực và điều kiện mỗi địa phương mà những người bị di rời còn chịu rủi ro khác mà nguy cơ lớn nhất là trẻ em khi ra các khu tái định cư mới. Nghiên cứu của Cernea, Micheal (1997) trong cuốn The Risk and Reconstruction Model for Resettling Displaced Populations (Mô hình Rủi ro và Tái thiết để tái định cư dân cư bị phân tán) [127]. Nghiên cứu của Cernea, Micheal (1997) chỉ ra sau tái định cư do thu nhập của họ giảm, nhiều trẻ em di rời từ nơi định cư này đến khu tái định cư mới nên phải đi làm sớm hơn bình thường, do đó làm tăng nguy cơ thất học của trẻ em cao. Chính vì di rời ra khu định cư mới nên nguy cơ bỏ học của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau là rất cao, mặt khác người nông dân không có thu nhập và bị mất đất vào sẽ rơi vào cảnh nghèo trong tương lai không xa.
Nghiên cứu của Tim Hanstad, Robin Nielsn and Jennifer Brown (2004) trong cuốn “Land and livelihoods: Making land rights real for India’s rural luan an 13 poor” (Đất đai và sinh kế: Làm cho quyền đất đai trở thành hiện thực cho người nghèo ở nông thôn Ấn Độ) [133]. Tim Hanstad, Robin Nielsn and Jennifer Brown chỉ ra rằng cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những sự lựa chọn sinh kế thay thế thì quyền đất đai đóng một vị trí quan trọng về nhiều mặt. Chẳng hạn, đảm bảo an ninh tiếp đối với cận đất có thể là mục tiêu sinh kế của nông dân. Theo Paulo Filipe (2005) trong cuốn “The right to land a livelihood: The dynamics of land tenure systems in Conda, Amboim and Sumbe municipalities” (Quyền có đất để sinh kế: Động lực của hệ thống sở hữu đất ở các thành phố tự trị Conda, Amboim và Sumbe) [131], việc thiếu tiếp cận đối với đất đai là một hạn chế quan trọng đối với sinh kế của nhiều người và những người không có đảm bảo quyền của mình đối với đất đai, khi diễn ra thu hồi thì thường bị đền bù một cách không công bằng.
Mặt khác nghiên cứu cũng chỉ ra đất đai cũng là một tài sản tự nhiên mà qua đó có thể đạt được các mục tiêu sinh kế khác như bình đẳng giới và sử dụng bền vững các nguồn lực. Theo Chris Huggins, PriscaKamungi, Joan Kariuki, Herman Musahara, Jonstone Summit Oketch, Koen Vlassenroot and Judi W. Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu tiếp cận một cách không đầy đủ đối với đất đai là nhân tố cơ bản thì nó sẽ làm hạn chế khả năng cải thiện cuộc sống của hàng ngàn cư dân nông thôn, như ở một số vùng của Cộng hòa dân chủ Congo, Burundi, Keynia, Uganda nơi có mật độ dân số rất đông. Nghiên cứu của Cernea, Diana (1998), trong cuốn: Sustainable Livelihoods Approaches: Progress andPossibilities for Change (Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững: quá trình và khả năng thay đổi) [125].
Nghiên cứu chỉ ra nhiều bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy những rủi ro mà người dân các khu vực tái định cư phải đương đầu, khiến họ trở nên nghèo hóa sau các dự luan an 14 án phát triển và trẻ em thường chịu những hậu quả lớn trong quá trình tái định cư như nguy cơ mất học. Mặt khác, nghiên cứu chỉ ra rằng nếu mất đất thì phải đối mặt với các nguy cơ như nguy cơ thất nghiệp, vô gia cư, rơi vào ngưỡng nghèo, thất học, tăng tình trạng bệnh tật và tử vong, thiếu an ninh lương thực, không tiếp cận được các tài sản chung và sự chia tách các mạng lưới xã hội. Bên cạnh những nguy cơ trên, nghiên cứu còn chỉ ra tùy theo lĩnh vực và điều kiện cụ thể ở địa phương mà những người bị di dời còn chịu những rủi ro khác ngoài các rủi ro nêu trên, việc di dời thường cắt ngang việc học của trẻ em và một số trẻ em không được đi học trở lại. Sau khi tái định cư, do thu nhập của hộ giảm xuống, nhiều trẻ em đã phải đi làm sớm hơn bình thường, do đó làm tăng nguy cơ thất học của trẻ em ở các vùng tái định cư.
Chính những rủi ro như trên làm cho các hộ nông dân và con cái của họ rơi vào ngưỡng nghèo trong một tương lai không xa. Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) (2004) “Báo cáo về những tác động và giải pháp nhằm giảm thiểu hóa những tổn thất khi thực hiện dự án thu hồi đất và tái định cư” [65]. Nghiên cứu chỉ ra không thể tránh khỏi hoặc giảm tối thiểu những tổn thất khi thực hiện dự án “từ việc THĐ và tái định cư, THĐ và dịch chuyển chỗ ở của người dân có thể gây ra sự thiếu thống nhất nghiêm trọng và những tổn hại về KT – XH - MT, nếu không có một kế hoạch cẩn thận và không thực hiện như một dự án phát triển” [65].