Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên - thành phố Hà Nội Chương 4: Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên - thành phố Hà Nội 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu chủ yếu Vấn đề việc làm nói chung, việc làm của người có đất bị thu hồi nói riêng, là một vấn đề rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng rất nhạy cảm và tác động sâu rộng đến thành công của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nên là chủ đề nhận được sự quan tâm rộng rãi của các nhà khoa học, các nhà quản lý kinh tế. Khi xem xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả chia các nghiên cứu thành các nhóm nội dung thu dần cấp độ mà các nghiên cứu đề cập đến.
Dưới đây là những nhóm nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài: - Nhóm tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề việc làm nói chung: + Lê Thi (1991) nghiên cứu “Vấn đề việc làm, tăng thu nhập, nâng cao địa vị người phụ nữ nông thôn hiện nay” [31]. Đây là những nghiên cứu có tính cơ bản và hệ thống đầu tiên về vấn đề việc làm. Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra tính bức xúc của vấn đề giải quyết việc làm ở khu vực nông thôn và vấn đề việc làm phát huy vai trò của người phụ nữ ở khu vực này. + Đề tài cấp Nhà nước KX 04.04 về "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần" [6].
Đây là một công trình lớn trong Chương trình KX 04 nằm trong hệ thống 10 chương trình khoa học công nghệ được Nhà nước triển khai nghiên cứu giai đoạn 1990-1995. Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã đóng góp một số luận cứ, cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước ta trong việc hình thành các chủ trương, chính sách về giải quyết vấn đề việc làm thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. + Ngân hàng thế giới (2011), “Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch 4 đất đai tự nguyện ở Việt Nam: Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân” [19]. Đây là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam với chủ đề “Xã hội và các xung đột đất đai” nhằm hỗ trợ Bộ Tài nguyên và Môi trường cải thiện chính sách và thực tiễn về thu hồi và chuyển dịch đất đai để đạt được sự tăng trưởng bền vững trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng hiện nay.
Nội dung của tác phẩm bao gồm ba báo cáo: Đề xuất về hoàn thiện chính sách Nhà nước thu hồi đất và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam; Nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam; Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam. + Nguyễn Duy Phương (2013),"Quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay” [21]. Tác giả phân tích bốn nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu việc làm ở nước ta, trong đó có nguyên nhân do việc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các thành phố lớn và các vùng phụ cận. Tác giả cho rằng, việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động đã trở thành một chính sách xã hội quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta.
Để thực hiện thành công mục tiêu giải quyết việc làm giai đoạn 2011-2020, theo tác giả cần quán triệt và thực hiện đồng bộ bốn quan điểm và giải pháp sau: Một là, giải quyết việc làm phải thực hiện một nguyên tắc cơ bản là đảm bảo công bằng xã hội; Hai là, cần cụ thể hóa các qui định tại điều 12, 13 và 14 Bộ luật Lao động năm 2012; Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế; Bốn là, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Trần Ngọc Diễn (2013), “Chất lượng việc làm ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp” [7]. Trên cơ sở những nghiên cứu ban đầu của Chương trình xếp hạng Quốc gia về Việc làm (BestViet), tác giả nhận thấy một số thực trạng đáng lo ngại trong vấn đề việc làm và môi trường làm việc tại các doanh nghiệp như: Chất lượng việc làm đáng lo hơn tình trạng thất nghiệp? Nhu cầu của người lao động đang thay đổi? Người lao động tập trung kỳ vọng vào các lợi ích ngắn hạn? Tác giả đề xuất năm 5 giải pháp cải thiện chất lượng việc làm trong doanh nghiệp là: xây dựng môi trường làm việc an toàn, ổn định và thân thiện; khai thác và phát huy hiệu quả nguồn lực lao động; doanh nghiệp cần chú trọng tới gây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng; không ngừng nâng cao trình độ tay nghề và ý thức của người lao động; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người lao động, nhà đầu tư và Nhà nước. - Nhóm tài liệu liên quan đến việc làm cho người lao động bị thu hồi đất: + Lê Du Phong (Chủ biên), “Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia” [20].
Nội dung cuốn sách nêu một số vấn đề lý luận, thực trạng về thu nhập, đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia trong thời gian qua ở nước ta, đồng thời cho thấy những khó khăn, tồn tại. Qua đó, tác giả đưa ra những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia trong thời gian tới. + Nguyễn Thị Thơm - Phí Thị Hằng (Đồng chủ biên), “Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa” [34]. Từ nghiên cứu thực trạng một số tỉnh trọng điểm đồng bằng sông Hồng mà Hải Dương là tiêu biểu, các tác giả đã bàn sâu về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mọc lên khắp nơi đã làm cho đất đai sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp.
Người nông dân mất đất, mất tư liệu sản xuất đồng nghĩa với mất hoặc thiếu việc làm. Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp lúc này là vấn đề bức thiết đặt ra; từ đó các tác giả đưa ra phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Hải Dương đến năm 2010 và những năm tiếp theo. + Nguyễn Hữu Dũng (2004), “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn” [8]. Tác giả nêu lên 6 thực trạng về lao động và việc làm ở nông thôn trong quá trình đô thị hóa và đưa ra các giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề này.
+ Nguyễn Hữu Dũng (2005), “Đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động” [9]. Ở bài viết này, tác giả cho rằng công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa và có tác động hai mặt: một mặt, làm cho bộ mặt của các tỉnh, thành phố thay đổi theo hướng hiện đại; mặt khác, làm cho một số lao động bị mất việc làm sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp và tác giả đưa ra các hướng giải quyết cho vấn đề nêu ra. + Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động việc làm” [10]. Tác giả cho rằng, việc phát triển các khu công nghiệp là một kênh giải quyết việc làm một cách hữu hiệu nhất đối với lao động nông thôn, đặc biệt là lao động ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Bài viết cũng cho rằng, để lao động nông thôn, trong đó có lao động ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất có thể tiếp cận hoặc làm việc được ở các khu công nghiệp cần phải có hàng loạt các chính sách tác động, nhất là tạo điều kiện để phát triển thị trường sức lao động. Muốn vậy, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được đặt lên hàng đầu. Nếu không chuyển đổi được nghề thì lao động ở các vùng bị mất đất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ luôn phải bị đứng ngoài quá trình ấy. Và do đó, đời sống và thu nhập của người lao động nông thôn sẽ không thể cải thiện.
+ Hà Thị Hằng (2008), “Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất ở nước ta hiện nay” [14]. Tác giả đã đề cập khái quát tình trạng thu hồi đất của nông dân ở nước ta, phân tích sự ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm, thu nhập của nông dân từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho đối tượng này trong thời gian tới. Tác giả đã giới thiệu cho người đọc một số nét trong nghiên cứu về những khó khăn trong giải quyết việc làm của người dân vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, và tác giả cũng cho rằng, những khó khăn đó rất khó tìm ra giải pháp giải quyết thoả đáng trong thời gian tới, vì theo tính toán của 7 tác giả, trong vòng 5 năm tới sẽ có khoảng 12 triệu lao động thiếu việc làm.