Chương 1. Các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung ở nhiều góc độ khác nhau và là những tài liệu quí báu cho tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật và kết quả đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật trên địa bàn Thành phố phù hợp với thực tiễn.
Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn thực hiện những nhiệm vụ: - Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật. - Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, từ đó xác định những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc thực hiện chính sách. - Đề xuất một số giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động. - Phạm vi về không gian: tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. - Phạm vi về thời gian: nghiên cứu thực trạng từ năm 2017 đến nay, đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách đến năm 2030.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5. Phương pháp luận Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người khuyết tật. Phương pháp nghiên cứu cụ thể - Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp các văn bản, chính sách pháp luật, tài liệu liên quan đến thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật. - Phương pháp quan sát: Tác giả sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin về việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật, về kết quả thực hiện chính sách.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Tổng hợp thông tin, dữ liệu từ các báo cáo của cơ quan nhà nước tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đề ra, từ đó đánh giá việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019. - Phương pháp khảo sát, phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu kỹ hơn về tình trạng việc làm của NKT, cách thức NKT có việc làm và giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm cho NKT trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian khảo sát, phỏng vấn: tháng 8 và tháng 9 năm 2020.Do tình hình dịch bệnh covid 19 diễn biến phức tạp, tác giả đã gửi phiếu khảo sát và phỏng vấn: đối với NKT, tác giả gửi 200 phiếu khảo sát và phỏng vấn, thu về 185 phiếu; đối với các trung tâm, sở, hội, tác giả gửi phiếu phỏng vấn đến 20 cán bộ; đối với lãnh đạo doanh nghiệp, tác giả phỏng vấn 10 người. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.
Ý nghĩa lý luận Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ về chính sách giải quyết việc làm đối với người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam, đưa ra những định hướng và đề xuất các kiến nghị là cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện chính sách về giải quyết việc làm đối với người khuyết tật trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu các đề tài liên quan về chính sách đối với người khuyết tật. Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật, cũng như bất cứ ai có quan tâm đến lĩnh vực này, đặc biệt là Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hạ Long, Trung tâm đào tạo nghề thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn cấu trúc thành 3 chương: Chương 1.
Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Chương 3. Giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 13 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Khái quát chung về chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật 1.
Khuyết tật và người khuyết tật 1. Khái niệm Khuyết tật là sự khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể của một người hay bị suy giảm chức năng trong vấn đề về nhận thức, khuyết tật được biểu hiện dưới nhiều dạng tật và dị dạng khác nhau khiến cho đời sống sinh hoạt và cuộc sống của họ gặp rất nhiều khó khăn. Hiểu theo cách khác, khuyết tật có thể là khiếm khuyết diễn ra rất lâu dài và không có cơ hội phục hồi về mặt tinh thần, thể chất, trí tuệ không được minh mẫn hoặc sự ảnh hưởng của các giác quan mà khi tương tác với xã hội họ gặp rất nhiều cản trở và ảnh hưởng; gây bất lợi đến quá trình làm việc và có thể những khiếm khuyết đó làm họ không thể hoạt động và làm các công việc giống như người bình thường. Khái niệm người khuyết tật hiện đang là một khái niệm gây rất nhiều tranh cãi ở các quốc gia và cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về người khuyết tật áp dụng chung cho các nước.
Theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế Người khuyết tật, NKT trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác. Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà người khuyết tật sống trong đó. Ở Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước, chúng ta vẫn dùng song song hai từ này trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Tuy nhiên, trong các pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính 14 thức sử dụng.
15 Tại Điều 1, Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998, người tàn tật được định nghĩa như sau: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Đến năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ người khuyết tật thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành có liên quan. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, người khuyết tật được định nghĩa như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Theo cách hiểu này, NKT bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh, ….
Họ có thể gặp các rào cản do các yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Tác giả lựa chọn khái niệm về người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật Việt Nam năm 2010. Đặc điểm cơ bản và quyền của người khuyết tật * Đặc điểm cơ bản của người khuyết tật Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe của con người:“Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”. Sức khỏe của NKT là tình trạng ổn định toàn diện về thể chất, tâm thần, xã hội.
Theo đó, việc chăm sóc sức khỏe của NKT cần quan tâm hợp lý đến cả ba mặt: Sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội. Điều này đã được chứng minh trong các công ước của WHO cũng như pháp luật các nước. Việt Nam đã đặt ra 5 quan điểm cơ bản, chủ yếu chỉ đạo công tác chăm sóc 16 sức khỏe con người, trong đó có NKT, chăm sóc sức khỏe NKT bao gồm chăm sóc 17 y tế, chăm sóc ngoài y tế. Sự chăm sóc này được hiểu trong mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại giữa các yếu tố môi trường bên ngoài (thức ăn, nước uống…) với yếu tố môi trường bên trong (di truyền, gen…); giữa các hoạt động đề phòng sự phát sinh ra bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật đến việc điều trị kịp thời, phục hồi sức khỏe cho NKT.
Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho NKT trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, dịch vụ công cộng, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội. Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT.