CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ LÒNG TRUNG THÀNH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm văn hóa Đối với cả phương Tây lẫn phương Đông, văn hóa đều mang ý nghĩa căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người (cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), văn hóa cũng có nghĩa là khiến cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp, hướng đến chân – thiện – mỹ. Nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ Leslie Alvin White (1900 – 1975) cho rằng: “văn hóa là hệ thống thống nhất có tổ chức (organized, integrated system) bao gồm ba hệ thống cấu thành là kỹ thuật, xã hội và tư tưởng”. Hệ thống kỹ thuật (technological system) được cấu thành từ những công cụ, phương tiện khai thác lương thực và tri thức; hệ thống xã hội (sociological system) được cấu thành từ những quan hệ xã hội trong các lĩnh vực gia đình, kinh tế, chính trị, tôn giáo; hệ thống tư tưởng (ideological system) gồm tri thức, tín ngưỡng. Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã khái niệm văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”.Ăng-ghen khái niệm rằng: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử”.
Theo hình thức biểu hiện thì văn hóa được phân thành văn hóa vật thể (hay còn gọi là văn hóa vật chất) và văn hóa phi vật thể (hay còn gọi là văn hóa tinh thần). Văn hóa vật chất bao gồm tất cả những sáng tạo hữu hình của con người mà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 trong xã hội học gọi chung là đồ tạo tác như những con đường, tòa cao ốc, đền đài, phương tiện giao thông, máy móc thiết bị, các sản phẩm văn hóa truyền thống như tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, áo dài,. Theo Từ điển Bách Khoa Văn Hóa Hoc: “Văn hóa tinh thần là toàn bộ kinh nghiệm "tinh thần” của nhân loại, các hoạt động “trí tuệ” và “tâm hồn” cùng những kết quả của chúng, bảo đảm xây dựng con người với tính chất những nhân cách, tác động dựa trên ý chí và sáng kiến. “Văn hoá tinh thần” tồn tại dưới nhiều hình thái.
Đó là những tục lệ, chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử đã hình thành trong những điều kiện xã hội mang tính lịch sử cụ thể…, những giá trị và lý tưởng đạo đức, tôn giáo, thẫm mỹ, xã hội, chính trị, hệ tư tưởng. Tuy nhiên, sự phân loại trên chỉ mang tính tương đối bởi vì luôn có những sản phẩm văn hóa mang cả yếu tố “vật thể” và “phi vật thể” bởi vì chúng gắn bó hữu cơ, lồng ghép vào nhau. Như trong không gian của văn hóa Trống Đồng, ẩn sau vật thể hữu hình là cái dùi, cái trống, mảng hoa văn là những gì vô hình mang âm hưởng thời gian, không gian và giá trị lịch sử, thấm đẫm tình quê hương, lòng tự hào dân tộc và hồn thiêng sông núi. Từ những góc độ trên, theo phạm vi bài nghiên cứu này thì tác giả lựa chọn khái niệm văn hóa phù hợp nhất như sau: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử” (C.Ăng- ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000, t 42, tr 136-137).2 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Gareth Morgan đã mô tả văn hóa doanh nghiệp như: “Các thiết lập của niềm tin, giá trị, và các định mức, cùng với các biểu tượng như các sự kiện và các cá nhân, đại diện cho nhân vật duy nhất của một doanh nghiệp, và cung cấp bối cảnh cho hành động ở trong đó”.
Niềm tin và giá trị là những từ sẽ xuất hiện thường xuyên trong các định nghĩa khác. Định mức có thể được mô tả như truyền thống, cấu trúc của cơ quan, hoặc thói quen. Schein khái niệm văn hóa doanh nghiệp là: “Một mô hình giả định chia sẻ cơ bản mà nhóm đã học được là nó giải quyết vấn đề của nó mà đã làm việc tốt, đủ để TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 được coi là hợp lệ và được thông qua vào các thành viên mới là các cách chính xác để nhận thức, suy nghĩ, và cảm thấy liên quan đến những vấn đề”. & Walters (1993) thì “Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”.
Theo Dương Thị Liễu (2006), văn hóa doanh nghiệp “là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó”. Theo Trần Kim Hào (2006): “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị thuộc về doanh nghiệp đã được gìn giữ và bồi đắp trong suốt chiều dài lịch sử của doanh nghiệp. Những giá trị đó đã được tập thể người lao động trong doanh nghiệp trân trọng, gìn giữ và bộc lộ trong những hành vi của mình tại bất cứ đâu”. Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng cụ thể riêng biệt.
Trước hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Nó xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó. Văn hoá doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp. Do đó, dựa trên tính kế thừa và tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây, văn hóa doanh nghiệp trong bài nghiên cứu này phù hợp nhất với khái niệm như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp” (Williams, A.3 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Thứ nhất, nó có vai trò định hình tính cách cho doanh nghiệp.
Văn hóa làm nên tính cách của doanh nghiệp, ngược lại, doanh nghiệp được biết đến qua văn hóa của mình. Bản sắc riêng của mỗi doanh nghiệp là nhân tố hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh, tạo nên sự khác biệt giữa các công ty: từ các hệ thống và vật phẩm nhận diện như logo, poster, bao bì, nhãn mác, catalog,. đến việc thể hiện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hình ảnh, màu sắc, ngôn từ. Tất cả đều xuất phát từ những giá trị, niềm tin, tư tưởng, nguyên tắc trong văn hóa của doanh nghiệp.
Thứ hai, văn hóa doanh nghiệp có vai trò là phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững: Văn hoá doanh nghiệp di truyền, bảo tồn cái bản sắc của doanh nghiệp qua nhiều thế hệ thành viên, tạo ra khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp, truyền tải ý thức, giá trị của tổ chức tới các thành viên trong tổ chức đó,văn hoá tạo nên một cam kết chung vì mục tiêu và giá trị của tổ chức, do đó văn hoá tạo nên sự ổn định của tổ chức. Thứ ba, văn hóa doanh nghiệp có vai trò là nguồn lực để phát triển kinh doanh. Nó được thể hiện ở sự lựa chọn phương hướng kinh doanh, sự hiểu biết về sản phẩm và dịch vụ, về những mối quan hệ giữa người với người trong tổ chức, tuân theo các quy tắc, quy luật của thị trường, hướng dẫn toàn bộ hoạt động giao tiếp trong kinh doanh, chỉ dẫn cho chủ thể kinh doanh thực hiện những nghĩa vụ, trách nhiệm về kinh tế, xã hội để thỏa mãn mong muốn của xã hội. Thứ tư, vai trò của văn hóa doanh nghiệp còn là tạo ra niềm tin cho mỗi người lao động trong doanh nghiệp.
Một công ty có một nền văn hóa mạnh và phù hợp với mục tiêu và chiến lược dài hạn thì sẽ tạo ra niềm tự hào của nhân viên về doanh nghiệp, từ đó mọi người luôn phấn đấu hết mình vì mục tiêu chung của doanh nghiệp một cách tự nguyện, nhân viên thoải mái và chủ động hơn trong việc định hướng cách nghĩ và cách làm của mình, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thứ năm, văn hóa doanh nghiệp là sợi dây gắn kết giữa những con người trong cùng doanh nghiệp, tạo ra tiếng nói chung giữa các thành viên, tác động quyết định đến tinh thần, thái độ, động cơ lao động của các thành viên, giúp cho doanh nghiệp trở thành một cộng đồng làm việc trên tinh thần hợp tác, tin cậy, gắn bó, thân thiện và tiến thủ, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nó như một chất keo kết dính các thành viên trong tổ chức, để giúp việc quản lý tổ chức bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng các thành viên nên nói gì và làm gì, văn hoá tạo ra như một cơ chế khẳng định mục tiêu của tổ chức, hướng dẫn và uốn nắn những hành vi và ứng xử của các thành viên trong tổ chức. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp Theo Edgar H.Schein (2010), văn hóa doanh nghiệp có thể chia thành 3 cấp độ khác nhau: (1) Những giá trị văn hóa hữu hình; (2) Những giá trị được tuyên bố; (3) Những giá trị ngầm định.
Mỗi cấp độ là một mức độ có thể nhận biết được thông qua các đặc điểm, biểu hiện riêng biệt nhưng luôn thể hiện được nét đặc trưng của mỗi văn hóa doanh nghiệp. Những giá trị văn hóa hữu hình: Bao gồm tất cả những thực thể hữu hình (sự vật, hiện tượng) mà con người có thể nhận biết được thông qua thị giác, xúc giác, thính giác và tri giác khi tiếp xúc với một tổ chức, một doanh nghiệp cụ thể. Bao gồm các hình thức cơ bản sau: Kiến trúc đặc trưng và diện mạo doanh nghiệp. Kiến trúc thể hiện ở cách thiết kế, bài trí phòng làm việc, lựa chọn nội thất, tông màu chủ đạo,.
Diện mạo thể hiện ở hình khối kiến trúc và quy mô về không gian của doanh nghiệp để tạo ấn tượng tốt đẹp, thể hiện sự lớn mạnh, thành công, sự giàu có của doanh nghiệp nhằm củng cố lòng tin từ khách hàng, đối tác và xã hội.