CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CƠ QUAN HCNN 1. Tổng quan về cơ quan HCNN 1. Khái niệm cơ quan HCNN Cơ quan nhà nước: "Là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định, và dược giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước". Như vậy CQNN có thể hiểu bao gồm 03 bộ phận: Cơ quan Lập pháp; cơ quan Hành pháp và cơ quan Tư pháp.
Cơ quan HCNN là bộ phận hợp thành hệ thống CQNN được thành lập để thực hiện chức năng quản lý HCNN (quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp). Đó là hệ thống cơ quan đứng đầu là Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp. Như vậy: "Cơ quan HCNN là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định". Đặc điểm của cơ quan HCNN - Các cơ quan HCNN được thành lập để thực hiện chức năng quản lý HCNN, nghĩa là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành.
Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Hiến pháp, luật, pháp lệnh và để thực hiện pháp luật. - Hoạt động của các cơ quan HCNN mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối ổn định, là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống. 4 - Các cơ quan HCNN là hệ thống rất phức tạp, có số lượng đông đảo nhất, có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương tới địa phương, cơ sở, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của một trung tâm thống nhất trong đó Chính phủ cơ quan HCNN cao nhất. - Thẩm quyền cơ quan HCNN chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành.
Thẩm quyền của cơ quan HCNN chủ yếu được quy định trong các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước hoặc trong những quy chế. - Các cơ quan HCNN đều trực tiếp, hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp tương ứng và chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó. - Các cơ quan HCNN là chủ thể cơ bản được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp và quan trọng nhất là Luật hành chính. Vai trò của cơ quan HCNN - Việc xây dựng các quy phạm pháp luật hành chính + Các cơ quan HCNN có thẩm quyền chỉ đạo, xây dựng các dự án luật, dự án pháp lệnh và trình dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội.
+ Các cơ quan HCNN có vai trò ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền để thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết, pháp lệnh của các cơ quan quyền lực nhà nước , quyết định của Chủ tịch nước và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan HCNN cấp trên và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. + Các cơ quan HCNN có thẩm quyền rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, 5 bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật trái với quy định. - Cơ quan HCNN vai trò thực hiện quy phạm pháp luật hành chính. + Các cơ quan HCNN căn cứ vào thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của mình để thực thi các quy phạm pháp luật hành chính, đưa các quy phạm pháp luật này vào thực tế triển khai thực thi trên phạm vi cả nước thông qua hệ thống cơ quan HCNN từ Trung ương tới địa phương.
+ Các cơ quan HCNN có thẩm quyền quyết định các biện pháp chỉ đạo, kiểm tra và đôn đốc việc thi hành hiến pháp, pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, đơn vị vũ trang và công dân, tổ chức lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục hiến pháp và pháp luật, báo cáo với cơ quan quyền lực nhà nước về việc triển khai và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật. + Tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết kiếu nại, tố cáo của công dân các cấp các ngành thuộc thẩm quyền. + Đình chỉ, bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp dưới ban hành trá với pháp luật quy định. + Căn cứ các quy định của pháp luật và thẩm quyền để bổ niệm, miễn nhiêm, cách chức các thành viên của cơ quan HCNN cấp dưới.
Quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ, tự trách nhiệm về tài chính đối với cơ quan HCNN 1. Khái niệm về cơ chế quản lý tài chính 1. Khái niệm cơ chế Cơ chế là một thuật ngữ thường để chỉ một kết cấu chặt chẽ về mặt tổ chức của nhiều bộ phận khác nhau, có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau và những quy trình, quy tắc để vận hành toàn bộ kết cấu ấy nhằm đạt tới một mục tiêu nhất định. Nói cách khác, cơ chế dùng để chỉ hình thái tồn tại của sự 6 vật đang vận động thành một hệ thống và nhờ đó hệ thống có thể hoạt động.
Cơ chế là tổng thể các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, làm mắt xích trong quá trình vận động của sự vật tạo thành động lực dẫn dắt một nền kinh tế hay sự hoạt động về một lĩnh vực nào đó. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, cơ chế quản lý là cách thức tổ chức, vận hành cụ thể các biện pháp để đạt được những yêu cầu và mục tiêu quản lý đã đề ra. Cơ chế quản lý thường được biểu hiện thông qua hệ thống các văn bản pháp luật do các cơ quan lập pháp hoặc hành pháp ban hành như Luật, Nghị định, Thông tư. Khái niệm về cơ chế quản lý tài chính Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội là khâu quản lý mang tính tổng hợp.
Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra một cơ chế quản lý tài chính thích hợp có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo phương hướng phát triển đã được hoạch định. Cơ chế quản lý tài chính theo nghĩa rộng là hệ thống các hình thức, phương pháp và biện pháp tài chính được sử dụng để tác động vào quá trình vận hành của các quan hệ kinh tế tương ứng nhằm vào các mục tiêu quản lý đã được xác định. Cơ chế quản lý tài chính có chức năng chủ yếu: - Kích thích kinh tế thông qua sự vận hành của các đòn bẩy tài chính. - Điều tiết quan hệ kinh tế thông qua các quan hệ tài chính.
- Kiểm soát các hoạt động kinh doanh thông qua sự vận động của đồng vốn. Cơ chế quản lý tài chính được thể hiện trong hoạt động thực tiễn thông qua các công cụ tài chính ở tầm vĩ mô và vi mô, sự kết hợp hài hòa của cả ba chức năng nêu trên. Khái niệm cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế Nhà nước phân cấp cho đơn vị, cơ quan được chủ động và chịu trách nhiệm trước Nhà nước trong việc tạo nguồn thu và chi tiêu trong đơn vị, cơ quan nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Nội dung cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan HCNN 1. Đối tượng áp dụng Cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước trực tiếp sử dụng kinh phí quản lý hành chính do ngân sách nhà nước cấp, có tài khoản và con dấu riêng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao biên chế và kinh phí quản lý hành chính, gồm: - Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. - Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước. - Toà án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
- Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Văn phòng Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. - Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. - Các cơ quan hành chính khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập. - Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Mục tiêu của cơ chế Một là, tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. 8 Hai là, không tăng biên chế và kinh phí quản lý hành chính được giao, trừ trường hợp qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 9 của Nghị định số 130/2005/NĐ- CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ và thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lý hành chính. Ba là, nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí quản lý hành chính, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức. Bốn là, thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo 1.
Nguyên tắc thực hiện cơ chế - Bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, các cơ quan quản lý nhà nước thì phải thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ được giao, phát huy tối đa khả năng chuyên môn và tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ công chức. - Thực hiện công khai, dân chủ và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cán bộ công chức. Các hoạt động tài chính của đơn vị phải được quy định cụ thể hóa với sự nhất trí cao của tập thể cán bộ công chức và phải công khai đầy đủ các khoản thu chi.