Tổng quan nghiên cứu

Tình trạng ngập lụt đô thị dưới tác động kép của biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhanh đang là thách thức nghiêm trọng đối với các đô thị lớn tại Việt Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh. Với đặc điểm địa hình thấp trũng khi có gần 75% diện tích tự nhiên nằm dưới cao trình +2,0m và 40% đến 45% diện tích nằm trong khoảng 0m đến 1m so với mực nước biển, thành phố thường xuyên đối mặt với nguy cơ ngập úng nghiêm trọng. Lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè giữ vai trò là trung tâm hành chính, văn hóa, kinh tế cốt lõi với diện tích khoảng 33,2 km² trải dài qua 7 quận nội thành, bao gồm Quận 1, Quận 3, Quận 10, Tân Bình, Phú Nhuận, Bình Thạnh và Gò Vấp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự suy giảm năng lực thoát nước nghiêm trọng của lưu vực khi xảy ra tổ hợp bất lợi: mưa đối lưu cường độ lớn kết hợp triều cường sông Sài Gòn vượt mức báo động. Điển hình, các trận mưa vũ lượng đo được đạt tới 79,8 mm chỉ trong 40 phút (tương đương cường độ cực đại 120 mm/h) trùng với thời điểm đỉnh triều tại trạm Phú An đạt trên +1,40m đã gây tê liệt giao thông và đảo lộn sinh hoạt. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện hiện trạng mạng lưới tiêu thoát nước, phân tích nguyên nhân ngập úng qua việc ứng dụng công nghệ mô hình số thủy lực, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể và chi tiết có tính khả thi cao. Nghiên cứu mang ý nghĩa kinh tế – xã hội sâu sắc, giúp định hướng tối ưu hóa nguồn vốn duy tu bảo dưỡng hàng năm khoảng 60 đến 70 tỷ đồng của thành phố, đồng thời giảm thiểu thiệt hại tài sản ước tính từ 12,9 triệu đến 13,4 triệu đồng cho mỗi hộ dân trong mỗi đợt ngập úng kéo dài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết thủy lực dòng chảy hở và dòng chảy có áp trong mạng lưới đô thị. Hệ thống lý thuyết nền tảng bao gồm hệ phương trình Saint-Venant một chiều mô tả động lực học dòng chảy trong kênh rạch và mạng lưới cống ngầm, kết hợp hệ phương trình nước nông hai chiều mô phỏng quá trình ngập tràn và lan truyền dòng chảy trên bề mặt địa hình đô thị. Bên cạnh đó, lý thuyết cân bằng nước lưu vực và mô hình mưa – dòng chảy đô thị được áp dụng để xác định hệ số dòng chảy mặt khi bề mặt đất bị bê tông hóa mạnh mẽ.

Các khái niệm then chốt được vận hành xuyên suốt đề tài gồm có:

  • Quản lý rủi ro ngập lụt tích hợp (FRM): Tiếp cận đồng bộ giữa giải pháp công trình và phi công trình nhằm giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương của đô thị.
  • Chế độ bán nhật triều không đều: Hiện tượng hai lần triều lên và hai lần triều xuống mỗi ngày từ Biển Đông qua sông Sài Gòn với biên độ dao động từ 2,7m đến 3,3m.
  • Mô hình số độ cao (DEM): Dữ liệu không gian số hóa mô tả chi tiết cao độ địa hình tự nhiên phục vụ phân tích ngập lụt.
  • Khả năng trữ và điều tiết cục bộ: Năng lực lưu giữ nước mưa tạm thời của mạng lưới hồ điều hòa, kênh hở và các vùng trũng tự nhiên trước khi tiêu thoát ra nguồn tiếp nhận.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm độ tin cậy khoa học, luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn diện đối với toàn bộ hệ thống thoát nước lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè quy mô 33,2 km². Cỡ mẫu dữ liệu bao gồm 278 km tuyến cống các loại, toàn bộ các tuyến kênh rạch chính và phụ dài hàng chục kilômét, chuỗi số liệu khí tượng thủy văn hơn 10 năm tại trạm Tân Sơn Nhất, trạm Cầu Bông cùng chuỗi quan trắc mực nước tại trạm Phú An.

Về phương pháp phân tích, tác giả lựa chọn bộ công cụ mô hình toán MIKE tiên tiến do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển, bao gồm: MIKE 11 tính toán thủy lực kênh hở, MIKE URBAN (MOUSE) mô phỏng mạng lưới đường ống ngầm và hố ga, MIKE 21 mô phỏng dòng tràn bề mặt, và MIKE FLOOD làm nền tảng liên kết động lực học đa chiều. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì mạng lưới thoát nước khu vực trung tâm có tính chất tương tác vô cùng phức tạp: nước từ cống chảy ra kênh, nước kênh dâng tràn ngược vào cống khi triều cao, và nước mặt tràn tự do trên đường phố. Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định chuẩn xác thông qua các kịch bản thực tế điển hình, tiêu biểu là trận mưa triều ngày 15/08/2014 và ngày 06/09/2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả mô phỏng và phân tích thực địa đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi về cơ chế ngập lụt tại lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè:

Thứ nhất, sự phân hóa địa hình dạng lòng chảo tạo nên các rốn ngập tự nhiên. Khu vực có cao độ thấp dưới +1,3m chiếm hơn 6,34% tổng diện tích lưu vực, tập trung chủ yếu tại các nhánh rạch Cầu Bông, rạch Cầu Sơn và rạch Văn Thánh thuộc Quận Bình Thạnh. Khi mực nước sông Sài Gòn vượt mức +1,3m, các khu vực này lập tức bị ngập do triều dâng dù không có mưa xuất hiện.

Thứ hai, mạng lưới cống ngầm hiện hữu bị quá tải nghiêm trọng về mặt tiết diện và suy giảm khả năng tải nước. Hơn 50% tuyến cống thu gom được xây dựng qua nhiều thời kỳ, kích thước nhỏ và bị bồi lắng bùn cát làm giảm từ 20% đến 40% diện tích thoát nước hiệu dụng, dẫn đến tốc độ thoát nước không kịp đáp ứng vũ lượng mưa trên 40 mm.

Thứ ba, sự thu hẹp không gian trữ nước tự nhiên và xói lở, lấn chiếm hành lang kênh rạch làm gia tăng đỉnh lũ. Quá trình bê tông hóa làm tăng hệ số dòng chảy mặt lên trên 0,85, trong khi các tuyến rạch tiêu thoát chính bị bồi lấp và rác thải bít nghẽn cửa xả, khiến thời gian tập trung dòng chảy giảm mạnh và nước dồn nhanh về các tuyến đường trũng.

Thứ tư, kết quả kiểm định mô hình xác định chính xác 12 điểm ngập trọng điểm trên lưu vực, nổi bật là các nút giao thông huyết mạch như đường 3 Tháng 2, đường Tô Hiến Thành, đường Mai Thị Lựu và đường Đinh Tiên Hoàng với độ sâu ngập mô phỏng dao động từ 0,2m đến trên 0,5m, hoàn toàn trùng khớp với số liệu thực đo ngoài hiện trường.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân gốc rễ gây ngập úng là sự bất tương xứng giữa tốc độ đô thị hóa nhanh và hạ tầng thoát nước chậm phát triển, kết hợp với các yếu tố thủy văn cực đoan. Khi đỉnh triều sông Sài Gòn vượt ngưỡng +1,45m, chênh lệch cột nước giữa kênh và cống bị triệt tiêu, khiến hệ thống cống tự chảy bị tê liệt hoàn toàn nếu không có van ngăn triều và trạm bơm hỗ trợ.

So sánh với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ áp dụng mô hình thủy lực 1D truyền thống, việc ứng dụng mô hình liên kết MIKE FLOOD đã tái hiện chân thực hiện tượng tràn lan 2D trên mặt đất và xác định chính xác các điểm nghẽn thủy lực. Toàn bộ các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ phân bố diện tích địa hình theo cấp cao độ, đồ thị trắc dọc mực nước áp lực trong tuyến cống, bảng cân bằng nước tổng lượng – tổng trữ – lưu lượng xả trạm bơm, và bản đồ GIS không gian thể hiện ranh giới ngập lụt ứng với từng kịch bản tần suất mưa thiết kế.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả mô phỏng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình mang tính chiến lược:

  1. Nạo vét và mở rộng mặt cắt hình học các tuyến rạch nhánh: Tiến hành mở rộng mặt cắt đáy rạch Cầu Bông đạt tối thiểu 2,8m và rạch Cầu Sơn đạt 6,1m kết hợp kiên cố hóa bờ kè; mục tiêu nâng cao năng lực tiêu thoát thêm 35% đến 40% lưu lượng đỉnh; giao Sở Giao thông Vận tải phối hợp UBND Quận Bình Thạnh thực hiện trong giai đoạn 2026 – 2028.

  2. Cải tạo phân lưu và điều chỉnh hướng thoát nước cục bộ: Tái cấu trúc hướng dốc thủy lực và thay thế các đoạn cống cổ chai trên 4 tuyến đường ngập nặng gồm 3 Tháng 2, Tô Hiến Thành, Mai Thị Lựu và Đinh Tiên Hoàng; hướng tới triệt tiêu hoàn toàn các điểm ngập sâu trên 0,2m sau mưa 30 phút; do Công ty TNHH MTV Thoát nước Đô thị TP.HCM chủ trì thực hiện trong lộ trình 2026 – 2027.

  3. Tối ưu hóa vận hành hồ điều hòa và trạm bơm cưỡng bức: Khai thác hiệu quả dung tích trữ của Hồ Hoàng Văn Thụ (dung tích 3.500 m³), Hồ Kỳ Hòa (dung tích 6.400 m³) và Hồ Văn Thánh (dung tích 40.000 m³), đồng thời lắp đặt bổ sung các trạm bơm dã chiến công suất từ 2.000 đến 5.000 m³/h tại các cửa xả kiểm soát triều; Trung tâm Quản lý Hạ tầng Kỹ thuật chịu trách nhiệm vận hành tự động trước năm 2028.

  4. Xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu số và kiểm soát quy hoạch: Thiết lập mạng lưới quan trắc tự động SCADA kết nối mô hình dự báo ngập thời gian thực, đồng thời siết chặt quy định duy trì tỷ lệ thấm nước tối thiểu 30% đối với các dự án đô thị mới; giao Sở Quy hoạch – Kiến trúc và Sở Xây dựng phối hợp triển khai thường xuyên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và phương pháp luận giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Kỹ sư tư vấn thiết kế và quy hoạch hạ tầng cấp thoát nước: Vận dụng quy trình xây dựng mô hình liên kết 1D-2D trong MIKE FLOOD để tính toán kích thước mạng lưới cống, kênh hở và cửa xả cho các dự án đô thị phức tạp.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý dự án đô thị: Sử dụng kết quả phân vùng ngập và bảng cân bằng thủy lực làm căn cứ khoa học để phân bổ nguồn vốn đầu tư công, ưu tiên nâng cấp các hạng mục chống ngập khẩn cấp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn, Kỹ thuật Tài nguyên nước: Tham khảo làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về ứng dụng GIS, DEM và mô hình toán trong quản lý thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu.
  • Doanh nghiệp vận hành hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị: Ứng dụng các kịch bản mô phỏng để xây dựng quy trình duy tu, nạo vét cống rãnh định kỳ và điều hành trạm bơm ngăn triều hiệu quả trong mùa mưa bão.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cơ bản gây nên ngập úng tại lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè là gì?
Ngập úng tại khu vực rộng 33,2 km² này là hệ quả tổng hợp của mưa nhiệt đới cực đoan (đạt 79,8 mm trong 40 phút), triều cường sông Sài Gòn dâng cao trên +1,40m, địa hình trũng thấp cục bộ dưới +1,3m tại Quận Bình Thạnh và hệ thống cống cũ bị quá tải, bồi lắng.

Tại sao đề tài lại lựa chọn mô hình MIKE FLOOD thay vì các mô hình thủy lực khác?
MIKE FLOOD tích hợp đồng thời dòng chảy 1D trong sông ngòi (MIKE 11), mạng lưới cống ngầm (MIKE URBAN) và dòng tràn 2D trên mặt đất (MIKE 21). Sự kết hợp này mô phỏng chuẩn xác tương tác giữa nước dềnh trong cống và ngập úng diện rộng trên đường phố.

Phương án mở rộng mặt cắt rạch nhánh đem lại hiệu quả cụ thể ra sao?
Việc mở rộng rạch Cầu Bông lên 2,8m và rạch Cầu Sơn lên 6,1m giúp tăng dung tích chứa và tốc độ thoát nước ra kênh trục chính. Kết quả mô phỏng cho thấy giải pháp này làm giảm từ 35% đến 50% diện tích ngập tại các tiểu lưu vực lân cận.

Hệ thống hồ điều hòa hỗ trợ giải quyết bài toán chống ngập đô thị như thế nào?
Các hồ điều hòa như Văn Thánh (40.000 m³), Kỳ Hòa (6.400 m³) và Hoàng Văn Thụ (3.500 m³) đóng vai trò trữ nước mưa tạm thời khi mưa lớn trùng đỉnh triều, làm chậm đỉnh lũ trước khi được xả an toàn lúc chân triều rút xuống dưới +0,5m.

Làm thế nào để xử lý triệt để ngập lụt tại các trục đường lớn như đường 3 Tháng 2 hay Đinh Tiên Hoàng?
Cần kết hợp điều chỉnh phân lưu dòng chảy theo quy hoạch mới, lắp đặt cống hộp khẩu độ lớn thay thế cống tròn cũ, và bố trí các van ngăn triều tự động một chiều tại cửa xả để ngăn nước sông dội ngược vào khu dân cư.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với các đóng góp trọng tâm sau:

  • Xác lập bức tranh toàn cảnh về hiện trạng và cơ chế ngập lụt phức tạp trên toàn bộ 33,2 km² lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè dưới tác động của mưa lớn và triều cường.
  • Ứng dụng thành công công nghệ mô hình thủy lực liên kết tiên tiến MIKE FLOOD trên nền tảng GIS và dữ liệu DEM độ phân giải cao phục vụ mô phỏng ngập đô thị.
  • Đề xuất phương án mở rộng hình học chi tiết cho rạch Cầu Bông (2,8m) và rạch Cầu Sơn (6,1m), mang lại hiệu quả giảm ngập trên 40% diện tích lưu vực hạ du.
  • Hoàn thiện giải pháp điều chỉnh hướng tuyến thoát nước và phân lưu dòng chảy cho 4 tuyến đường huyết mạch thường xuyên bị ngập sâu.
  • Xây dựng giải pháp tổng thể kết hợp không gian trữ nước của gần 50.000 m³ hồ điều hòa với hệ thống bơm tiêu cưỡng bức và van ngăn triều hiện đại.

Các kết quả nghiên cứu là luận cứ kỹ thuật vững chắc để Thành phố Hồ Chí Minh triển khai quy hoạch chống ngập giai đoạn 2026 – 2030. Các cơ quan quản lý và đơn vị chuyên môn cần sớm đưa bộ mô hình tính toán này vào vận hành thực tiễn để nâng cao chất lượng sống cho người dân đô thị.