Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nhập khẩu và hiệu quả nhập khẩu hàng hoá Chương 3: Thực trạng hiệu quả nhập khẩu mặt hàng kính từ thị trường Trung Quốc của Công ty TNHH TNHH XNK Âu Việt giai đoạn 2020-2022. Chương 4: Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu mặt hàng kính từ thị trường Trung Quốc của Công ty TNHH TNHH XNK Âu Việt. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 2. Cơ sở lý luận chung về nhập khẩu hàng hóa 2.
Khái niệm về nhập khẩu Theo Lý luận về thương mại quốc tế: “Nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác là việc nhà sản xuất nướcngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng trong nước”. Theo OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (thương mại hàng hoá) là hàng hoá được bổ sung vào kho vật chất của một quốc gia bằng cách đưa vào lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó. Theo định nghĩa của từ điển kinh tế học hiện đại của học viện công nghệ Massachuset định nghĩa “Hàng nhập khẩu là hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng ở một nước nhưng mua ở nước khác”.
Theo khoản 2 điều 28, chương 2 Văn bản hợp nhất 17/VBHN-VPQH ngày 05/07/2019 về Luật thương mại, quy định “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Nhập khẩu nhìn chung được hiểu là hoạt động mua hàng hóa/dịch vụ vượt qua biên giới của một quốc gia, khi đó người bán (nhà xuất khẩu) và người mua (nhà nhập khẩu) có trụ sở kinh doanh ở hai quốc gia khác nhau, hàng hóa/dịch vụ có sự di chuyển qua biên giới quốc gia: - Hàng hóa nhập khẩu thường được làm thủ tục hải quan để đưa vào lãnh thổ của quốc gia, đồng thời được vận chuyển từ nước của người xuất khẩu tới quốc gia của người nhập khẩu bởi các hãng vận tải. - Trong khi đó, quá trình xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ diễn ra đồng thời, quá trình cung cấp dịch vụ (xuất khẩu dịch vụ) được thực hiện theo một trong bốn phương thức: (1) cung cấp dịch vụ qua biên giới, (2) tiêu dùng ở nước ngoài, (3) hiện diện thương mại, (4) hiện diện thể nhân 2. Đặc điểm của nhập khẩu Hoạt động nhập khẩu là hoạt động mua bán trên phạm vi toàn cầu nên sẽ có những 13 đặc điểm riêng khác với kinh doanh nội địa, những đặc điểm này có ảnh hưởng tới kinh doanh nhập khẩu - Về phạm vi thị trường: Thị trường nhập khẩu thường rất đa dạng, một quốc gia có thể thực hiện nhập khẩu từ nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Mỗi quốc gia có lợi thế so sánh trong sản xuất những loại hàng hóa cụ thể. Do đó, trong phạm vi thị trường lớn như vậy các nhà nhập khẩu cần phải phân tích, đánh giá cẩn thận và đưa ra quyết định nhập khẩu hàng hóa gì, tại quốc gia nào để có thể tối đa hóa hiệu quả nhập khẩu. - Về môi trường pháp luật: Hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng chịu sự chi phối của hệ thống luật quốc gia và quốc tế. Giữa những nguồn luật này luôn có sự mâu thuẫn với nhau.
Vì thế khi tham gia vào hoạt động nhập khẩu, doanh nghiệp cần tìm hiểu thật kỹ các nguồn luật cần thiết để tránh những tranh chấp phát sinh không đáng có. - Về phương thức thanh toán: Phương thức thanh toán quốc tế rất đa dạng, có thể kể đến một số phương thức như: Phương thức nhờ thu, Phương thức chuyển tiền, Phương thức tín dụng chứng từ,… Tiền tệ sử dụng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyển đổi cao, phổ biến như đô la Mỹ (USD), EURO, bảng Anh,…các loại ngoại tệ này chịu tác động lớn của tỷ giá hối đoái, do đó các nhà nhập khẩu cũng thường phải chịu rủi ro rất lớn khi có biến động về tỷ giá. Vai trò của nhập khẩu Thứ nhất, Nhập khẩu là hoạt động kết nối nền kinh tế, thị trường trong và ngoài nước, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hóa. Thứ hai, Nhập khẩu sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng hóa nội địa và hàng ngoại nhập, do đó nhập khẩu cũng được coi là một hoạt động nhằm thúc đẩy các nhà sản xuất nội địa phải không ngừng vương lên để có thể cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu.
Thứ ba, Nhập khẩu tạo tiền đề cho việc chuyển giao công nghệ, dẫn tới sự phát triển vượt bậc của sản xuất, tiết kiệm chi phí và thời gian, nâng cao hiệu quả tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển trong xã hội. 14 Thứ tư, Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hóa hiếm hoặc quá hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được). Các hình thức nhập khẩu Nhập khẩu trực tiếp: Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu, trong đó, doanh nghiệp phải trực tiếp làm mọi khâu của quá trình kinh doanh nhập khẩu, như tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng… và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh nhập khẩu. Khi sử dụng hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình.
Độ rủi ro của hình thức nhập khẩu trực tiếp cao hơn song lại đem lại lợi nhuận cao hơn so với các hình thức khác. Nhập khẩu ủy thác: Nhập khẩu ủy thác là nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp có vốn, có nhu cầu nhập khẩu nhưng lại không có quyền tham gia vào các quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp hay xét giấy nhập khẩu trực tiếp không có lợi (bên ủy thác), đã ủy thác cho doanh nghiệp khác có chức năng giao dịch ngoại thương (bên được ủy thác) tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận ủy thác có nghĩa vụ đàm phán ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên ủy thác và bên nhận ủy thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng ủy thác. Bán buốn đối lưu: Mua bán đối lưu là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về.
Như vậy, mua bán đối lưu thực chất chỉ là sự trao đổi hàng hóa giữa các bên tham gia. Đồng tiền chỉ đóng vai trò cơ bản là chức năng tính toán chứ không sử dụng vai trò là chức năng thanh toán. Người mua và người bán vừa phải làm thủ tục xuất hàng đi và làm thủ tục nhập hàng về. Do đó, hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt động nhập khẩu.
Xét dưới giác độ ngoại thương, thực chất đây là hoạt động trao đổi hàng hóa không làm tăng hay giảm cán cân thương mại của các quốc gia tham gia, hoạt động mua và bán chỉ là hình thức nên hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu đóng vai trò hỗ trợ cho quan hệ trao đổi đó. Nhập khẩu tái xuất: Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu vào một nước 15 nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang nước khác nhằm thu lợi nhuận, nhưng hàng nhập khẩu phải được bảo là không được chế biến tại nước tái xuất. Nhập khẩu gia công: Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu mà bên nhập khẩu (bên nhận gia công) tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu từ phía người xuất khẩu (bên đặt gia công) để tiến hành gia công theo quy định trong hợp đồng ký kết giữa hai bên. Hình thức nhập khẩu này được thực hiện chủ yếu trong ngành may mặc, da giày, điện tử, điện máy, công nghệ thông tin.
Nhập khẩu liên doanh: Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở liên kết kỹ thuật một cách tự nguyện giữa doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương bện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi nếu lỗ cùng chịu. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả nhập khẩu 2. Khái niệm về hiệu quả nhập khẩu 2. Khái niệm về hiệu quả Theo Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt, hiệu quả là kết quả mong muốn mà con người chờ đợi và hướng tới.
Trong sản xuất hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong lao động nói chung hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Trong xã hội học, một hiện tượng, một sự biến có hiệu quả xã hội, tức là có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội, đối với sự phát triển của lĩnh vực đó. Theo Nguyễn Văn Ngọc, từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hiệu quả là mối quan hệ giữa các đầu vào nhân tố khan hiếm và sản lượng hàng hóa và dịch vụ.
Mối quan hệ này có thể tính bằng hiện vật (hiệu quả kỹ thuật) hoặc giá trị (hiệu quả kinh tế). Hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. 16 Theo giáo trình quản trị học, TS. Trương Quang Dũng, Trường Đại học Kinh tế Tài chính, hiệu quả là tỷ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đặt ra.
Hiệu quả cao có nghĩa là đạt được mục tiêu với chi phí thấp nhất. Nếu như người nào đó, chấp nhận đạt được mục tiêu bằng bất kỳ giá nào thì có lẽ không cần đến quản trị. Quản trị phải nhằm đến việc thực hiện mục tiêu với hiệu quả. Nhìn chung, Hiệu quả là sự so sánh kết quả đầu ra và yếu tố nguồn lực đầu vào (Lao động, vốn, tài sản).
Sự so sánh đó có thể là sự so sánh tương đối hoặc là so sánh tuyệt đối.