Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về chuỗi cung ứng 1. Định nghĩa chuỗi cung ứng Có nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng được đưa ra nhưng các định nghĩa này không hoàn toàn đồng nhất. Sự khác biệt giữa chúng phụ thuộc vào góc độ tiếp cận của người nghiên cứu.
Theo Blanchard (2010, trang 29), “chuỗi cung ứng là chuỗi tất cả các hoạt động và quá trình liên quan đến vòng đời của sản phẩm từ lúc ra đời cho đến khi kết thúc”. Định nghĩa này có cái nhìn tổng quát về chuỗi cung ứng. Để minh chứng cho định nghĩa của mình, tác giả nêu một ví dụ về bỏng ngô được sản xuất bởi General Mills. Trước tiên, người nông dân trồng ngô, sau đó thu hoạch rồi đem bán cho nhà máy.
Nhà máy sau đó xử lý ngô và chế biến thành bỏng rồi đóng gói và lưu kho. Tiếp theo bỏng được chuyển từ kho đến nhà phân phối, hệ thống bán lẻ, người tiêu dùng và được tiêu thụ. Đối với những sản phẩm không được người tiêu dùng mua sẽ bị tiêu huỷ sau khi hết hạn. Tất cả những hoạt động trên đều là một phần của chuỗi cung ứng.
Cũng tác giả Blanchard (2010), chuỗi cung ứng còn được định nghĩa là các hoạt động từ nhà cung cấp đầu tiên tức người nông dân trồng ngô ở ví dụ trên, đến khách hàng cuối cùng tức người tiêu dùng bỏng. Hai định nghĩa này của tác giả Blanchard có thể xem là cùng nghĩa nhưng được viết bằng hai cách khác nhau. Các định nghĩa trên cho thấy cái nhìn khá tổng quát về chuỗi cung ứng. Bên cạnh tác giả này, cũng có những tác giả đưa ra cái nhìn cụ thể.
Tiêu biểu như định nghĩa của Ganeshan và Harrison (1995) về chuỗi cung ứng như sau: Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng cho khách hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Hay theo Chopra và Meindl (2007), chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Theo đó chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn bao gồm nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và khách hàng. Với tất cả các định nghĩa trên có thể rút ra một điểm chung trong định nghĩa chuỗi cung ứng đó là: chuỗi cung ứng là một hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và nguồn lực liên quan đến việc chuyển một sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng.
Theo đó, các hoạt động của chuỗi cung ứng làm biến đổi các tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu thô và các bộ phận hay linh kiện thành một sản phẩm hoàn chỉnh sau đó chuyển đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Với định nghĩa trên, cấu trúc của chuỗi cung ứng được mô tả như sau: Nhà Công ty Khách hàng cung cấp Hình 1.1: Chuỗi cung ứng đơn giản Nguồn: Hugos (2006, trang 40) Sơ đồ trên mô tả một chuỗi cung ứng đơn giản với ba thành viên: nhà cung cấp, công ty và khách hàng. Ngày nay, khi thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng đòi hỏi chuỗi cung ứng phải linh hoạt và nhạy bén hơn. Do đó chuỗi cung ứng cũng được mở rộng đồng thời kết hợp sử dụng dịch vụ thuê ngoài.
Chuỗi cung ứng mở rộng được mô tả như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nhà Nhà Khách Khách Công ty cung cấp cung cấp hàng hàng Nhà cung cấp dịch vụ Hình 1.2: Chuỗi cung ứng mở rộng Nguồn: Hugos (2006, trang 40) Sơ đồ trên mô tả chuỗi cung ứng mở rộng trong đó nhà cung cấp dịch vụ hoạt động trong các lĩnh vực như hậu cần (logistic), tài chính, nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, công nghệ thông tin. Định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng Từ các định nghĩa về chuỗi cung ứng có thể rút ra định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng như sau: Theo Hugos (2006, trang 16), “quản lý chuỗi cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà công ty đang phục vụ sự kết hợp tiện ích và hiệu quả tốt nhất”. Với định nghĩa này, tác giả nhấn mạnh đến sự phối hợp của tất cả các hoạt động liên quan đến chuỗi cung ứng tại nội bộ một doanh nghiệp cũng như phối hợp với các doanh nghiệp khác cùng tham gia vào việc cung ứng sản phẩm ra thị trường. Theo hội đồng của các chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng được Blanchard (2010) trích lại rằng quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định và quản lý mọi hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung cấp, thu mua, chuyển hoá và tất cả các hoạt động quản trị logistic.
Với định nghĩa này, tác giả nhấn mạnh đến công tác hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động của chuỗi cung ứng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Các định nghĩa trên tuy không đồng nhất nhưng đều xoay quanh các hoạt động nhằm tác động đến chuỗi cung ứng để đạt được hiệu quả cao nhất. Vậy theo tôi, quản trị chuỗi cung ứng có thể được định nghĩa lại là công tác hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến chuỗi cung ứng bao gồm thu mua, sản xuất, phân phối và thu hồi dựa trên sự phối hợp lẫn nhau trong phạm vi nội bộ công ty cũng như các công ty khác cùng tham gia trong chuỗi cung ứng đó. Hoạt động quản trị chuỗi cung ứng dựa trên cái nhìn tổng quát cho toàn doanh nghiệp, tránh những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh và cung ứng, như: muốn nâng cao khả năng phục vụ khách hàng, cần duy trì mức tồn kho cao nhưng muốn hoạt động hiệu quả thì cần giữ mức tồn kho thấp.
Quản trị chuỗi cung ứng giúp xem xét các yêu cầu một cách đồng thời. Xem chúng như là những phần của một bức tranh ghép từ đó cân đối hiệu quả các nhu cầu khác nhau. Một tổ chức thực hiện quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ giúp nâng cao hiệu quả nội bộ của các bộ phận trong chuỗi và làm hài lòng khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng đạt được thông qua việc hoàn thành đơn hàng với tỉ lệ cao; giao hàng đúng thời hạn; tỉ lệ sản phẩm bị trả lại thấp.
Tính hiệu quả nội bộ của các bộ phận trong chuỗi nghĩa là tỉ lệ hoàn vốn đầu tư đối với hàng tồn kho và các tài sản khác cao; tìm ra nhiều giải pháp để giảm thấp chi phí vận hành và chi phí bán hàng. Vai trò của chuỗi cung ứng Theo Goldratt (1984), chuỗi cung ứng có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp do nó quyết định hiệu quả của cả đầu vào và đầu ra. Hiệu quả này đạt được nhờ vào việc tiết kiệm chi phí do tìm nguồn cung ứng tốt hơn hay tối ưu hóa quá trình vận chuyển, quản lý tồn kho,… Bên cạnh đó, theo Hugos (2006), một chuỗi cung ứng hiệu quả giúp công ty thành công trong kinh doanh. Thực tế đã chứng minh rất nhiều doanh nghiệp thành công nhờ có chuỗi cung ứng phù hợp, ví dụ như tập đoàn Wal-mart.
Bên cạnh đó còn nhiều doanh nghiệp thất bại do không xây dựng được chuỗi cung ứng từ đó giảm khả năng cạnh tranh so với đối thủ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chuỗi cung ứng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là Marketing hỗn hợp 4P (product, price, promotion, place) vì các quyết định trong chuỗi cung ứng nhắm đến năm yếu tố là sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải và thông tin và các quyết định này đều dựa trên sự cân bằng giữa tính đáp ứng và tính hiệu quả. Quy trình hoạt động của chuỗi cung ứng Theo Hugos (2006), các quy trình hoạt động của chuỗi cung ứng bao gồm: hoạch định, thu mua, sản xuất và phân phối. Quy trình này được mô tả qua sơ đồ sau: Hoạch định - Dự báo lượng cầu - Định giá sản phẩm - Quản lý lưu kho Phân phối Thu mua - Quản lý đơn hàng - Thu mua - Lập lịch biểu giao hàng - Bán chịu và thu nợ - Quy trình trả hàng Sản xuất - Thiết kế sản phẩm - Lập quy trình sản xuất - Quản lý phương tiện Hình 1.3: Bốn quy trình hoạt động của chuỗi cung ứng Nguồn: Hugos (2006, trang 57) 1.
Hoạch định Phần này nói về 3 phạm trù cần lập kế hoạch và tổ chức hoạt động bao gồm dự báo nhu cầu, định giá sản phẩm và quản lý tồn kho. Dự báo nhu cầu giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định về chuỗi cung ứng. Hoạt động dự báo xác định sản phẩm nào được yêu cầu, số lượng là bao nhiêu, khi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nào cần sản phẩm này? Đây cũng chính là yếu tố căn bản nhất cho các doanh nghiệp vạch ra kế hoạch hành động riêng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Có 4 biến số quyết định diễn biến của tình hình thị trường, gồm: - Cung ứng: Số lượng nhà cung ứng và thời gian sản xuất là căn cứ để xác định lượng cung ứng của một sản phẩm.
Nếu số lượng nhà cung ứng nhiều và thời gian sản xuất sản phẩm đó ngắn thì khả năng dự báo về cung ứng sản phẩm đó rất dễ dàng. Ngược lại, nếu số lượng nhà cung cấp không nhiều và thời gian sản xuất dài, điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro, hoạt động dự báo nên được thực hiện để tạo cơ sở cho nhà quản lý ra quyết định. - Lượng cầu: Là tổng nhu cầu của thị trường về sản phẩm. Lượng cầu có thể bị ảnh hưởng bởi tình hình thị trường đang tăng trưởng, bão hòa hay suy thoái.
Nó cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tính mùa vụ,… Nếu là một sản phẩm mới ra mắt trên thị trường, dữ liệu quá khứ có thể chưa có hoặc có nhưng không nhiều. Công tác dự báo nhu cầu đối với các sản phầm này là khó khăn nhất. - Đặc tính sản phẩm: Đặc tính sản phẩm là những đặc điểm của sản phẩm mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu của khách hàng. Một sản phẩm bão hòa có thể có đặc tính ổn định hơn những sản phẩm đang phát triển.
Có vài điểm cần lưu ý trong dự báo đặc tính sản phẩm là sản phẩm này có thay thế sản phẩm khác không?