CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN VÀ PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN 1. Một số khái niệm cơ bản về lợi nhuận 1.1 Khái niệm về lợi nhuận Wiliam Petty (1623 – 1678): phái trọng thương bỏ qua vấn đề địa tô nhưng Petty đã tìm thấy nguồn gốc của địa tô ở trong lĩnh vực sản xuất. Ông định nghĩa địa tô là số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm và chi phí sản xuất (bao gồm chi phí tiền lương, chi phí giông má). Thực ra ông không rút ra được lợi nhuận kinh doanh ruộng đất nhưng theo logic có thể rút ra được kết luận, công nhân chỉ nhận được tiền lương tối thiểu số còn lại là lợi nhuận của địa chủ.
Petty coi lợi tức là tô của tiền và cho rằng nó lệ thuộc vào mức địa tô (trên đất mà người ta có thể dùng tiền vay để mua). Ông coi lợi tức là số tiền thưởng, trả cho sự nhịn ăn tiêu, coi lợi tức cũng như tiên thuê ruộng. Ađam Smith (1723 – 1790): Theo Ađam Smith, lợi nhuận là” khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của người lao động, là một trong những nguồn gốc đầu tiên của thu nhập cũng như của mọi giá trị trao đổi. Ông cho rằng giá cả lao động nông nghiệp và lao động công nghiệp đều tạo ra lợi nhuận.
Smith coi lợi nhuận trong nhiều trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho việc mạo hiểm và cho lao động khi đầu tư tư bản. Lợi nhuận do toàn bộ tư bản đẻ ra. Lợi nhuận tăng hay giảm tuỳ thuộc vào sự giàu có tăng hay giảm của xã hội. Ông thừa nhận sự đối lập giữa tiền công và lợi nhuận.
Smith đã nhìn thấy “khuynh hướng thường xuyên đi đến chỗ ngang nhau” của tỷ xuất lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh giữa các ngành và khuynh hướng tỷ xuất lợi nhuận giảm sút. Theo Ông tư bản đầu tư càng nhiều thì tỷ xuất lợi nhuận càng thấp. David Ricardo (1772 – 1823): Ricardo cho rằng lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công. Ông coi lợi nhuận là lao động không được trả công của công nhân.
Ricardo đã có những nhận xét tiến gần đến lợi nhuận bình quân, ông cho rằng những tư bản có đại CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ ĐỨC HOÀNG lượng bằng nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau. Giữa tiền lương và lợi nhuận có sự đối kháng; năng xuất lao động tăng lên thì tiền lương giảm và lợi nhuận tăng. Mặc dù ông chưa biết đến phạm trù giá trị thặng dư nhưng trước sau vẫn nhất quán quan điểm cho rằng giá trị do công nhân tạo ra lớn hơn số tiền mà họ nhận được. Theo Mac: Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn có một khoảng chênh lệch, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí thực tế hay giá trị của hàng hoá, (c+v) < (c+V+m), cho nên sau khi bán hàng hoá nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra mà còn thu được số tiền lời ngang bằng với gía trị thặng dư.
Số tiền này gọi là lợi nhuận. Công thức chung xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí - Lợi nhuận kế toán là: khoản chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất, mà phần chi phí này không xét đến chi phí cơ hội đã bỏ qua. - Lợi nhuận kinh tế là: phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các khoản chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phi cơ hội. Một số khái niệm liên quan đến lợi nhuận Doanh thu: Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thoả thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. Điều kiện và thời điểm xác định doanh thu. CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ ĐỨC HOÀNG * Điều kiện.
- Doanh thu phát sinh trong kỳ được khách hàng chấp nhận thanh toán có hoá đơn, chứng từ hợp lệ theo quy định hiện hành. - Doanh thu phải hạch toán bằng đồng Việt Nam, trường hợp thu bằng ngoại tệ phải quy đổi theo tỷ giá của ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch. * Thời điểm xác định doanh thu. - Là thời điểm doanh nghiệp đã chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, sản phẩm; hoàn thành việc cung cấp dịch vụ cho người mua; hoàn thành hợp đồng hoặc xuất hoá đơn bán hàng.
- Đối với hàng hoá sản phẩm bán thông qua đại lý, doanh thu được xác định khi hàng hoá gửi đại lý đã được bán. - Đối với các hoạt động tài chính thì thời điểm xác định doanh thu theo quy định sau: + Lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, tiền bản quyền. xác định theo thời gian của hợp đồng cho vay, cho thuê, bán hàng hoặc kỳ hạn nhận lãi. + Cổ tức, lợi nhuận được chia xác định khi có nghị quyết hoặc quyết định chia.
+ Lãi chuyển nhượng vốn, lãi bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh doanh xác định khi các giao dịch hoặc nghiệp vụ hoàn thành + Chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại nợ phải thu, nợ phải trả và số dư ngoại tệ xác định khi báo cáo tài chính cuối năm. * Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động thuật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động SXKD hoặc 1 chu kỳ CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ ĐỨC HOÀNG nhất định (tháng, quý, năm) thực chất chi phí bằng sự chuyển dịch vốn ,giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá như ( sản phẩm, lao vụ, dịch vụ) * Lợi nhuận trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp Lợi nhuận trước lãi vay và thuế hay thu nhập trước lãi vay và thuế (earnings before interest and taxes—EBIT) là một chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thu được lợi nhuận của công ty, bằng thu nhập trừ đi các chi phí, nhưng chưa trừ tiền (trả) lãi và thuế thu nhập. EBIT được đề cập đến như "khoản kiếm được từ hoạt động kinh doanh", "lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh" hay "thu nhập ròng từ hoạt động". Công thức để tính EBIT là: EBIT = Thu nhập - Chi phí hoạt động * Lợi nhuận sau thuế và lãi vay của doanh nghiệp Là lợi nhuận sau khi đã trừ đi chi phí thuế và các khoản lãi vay nếu có của doanh nghiệp.
Chi phí thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế x Thuế suất thuế TNDN 1.2 Kết cấu của lợi nhuận * Hoạt động kinh doanh: Là hoạt động bất kỳ mang tính rủi ro để nhận được lợi nhuận, nó bao gồm hai hoạt động chính sau: - Hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ - Hoạt động đầu tư tài chính * Hoạt động khác: là những hoạt động không nằm trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, như chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán. Từ nguồn gốc của hai hoạt đống chính trên mà lợi nhuận cũng chia ra làm hai loại lợi nhuận chính. - Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thuần của doanh nghiệp. CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ ĐỨC HOÀNG Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo và được tính toán dựa trên cơ sở tính toán khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí hoạt động kinh doanh, bao gồm giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
Nó bao gồm các loại lợi nhuận sau. + Lợi nhuận từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: Lợi nhuận về bán hàng và cung cấp dịch vụ là chênh lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ với giá vốn hàng bán , nói cách khác lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ là khoảng cách chênh lệch giữa giá bán và giá vốn của sản phẩm ,dịch vụ. Lợi nhuận về bán hàng và cung cấp dịnh vụ là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động kinh doanh trong hiện tại cũng như trong tương lai của DN. + Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: phản ánh hiệu quả hoạt động của hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy thu nhập từ hoạt động tài chính trừ đi các chi phí tài chính. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính bao gồm: lợi nhuận từ hoạt động góp vốn, từ hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn, từ cho thuê tài sản, cho vay vốn, bán ngoại tệ và các hoạt động đầu tư khác. + Lợi nhuận từ các hoạt động khác: là những khoản lợi nhuận doanh nghiệp không dự tính trước hoặc có dự tính nhưng ít có khả năng xảy ra. Những khoản lợi nhuận khác có thể do chủ quan của đơ vị hoặc do khách quan đưa tới Mỗi công ty sẽ có những hoạt động kinh doanh khác nhau, do đó tỷ trọng lợi nhuận giữa các hoạt động này cũng có sự khác nhau giữa các công ty với nhau.
Phương pháp xác định lợi nhuận Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Lợi nhuận là số tiền chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra, để đạt được doanh thu đó. Trong nền kinh tế thị trường muốn tối đa hóa lợi nhuận thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần phải phong phú và đa dạng. Các doanh nghiệp không chỉ tiến hành CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: LÊ ĐỨC HOÀNG sản xuất kinh doanh các loại hàng hàng theo đúng ngành nghề đã đăng ký kinh doanh, mà có thể tiến hành một số hoạt động khác.
Khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp được tập hợp từ ba nguồn khác nhau đó là: lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận khác.