đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Nội dung chính của chƣơng này trình bày các vấn đề liên quan đến cơ sở lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, phƣơng pháp nghiên cứu khoa học đƣợc sử dụng để phân tích trong đề tài. Chƣơng 3: Thực trạng công tác lập dự toán ngân sách nhà nƣớc tỉnh hậu giang Để có căn cứ đề xuất giải pháp mang tính khả thi, ở chƣơng này tác giả nêu lên một cách tổng quan về tình hình lập dự toán ngân sách nhà nƣớc giai đoạn 2011-2013. Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện phƣơng thức lập dự toán ngân sách nhà nƣớc tỉnh hậu giang Dựa vào kết quả nghiên cứu ở chƣơng 3 để đƣa ra các giải pháp mang tính khả thi và có ý nghĩa thực tiễn trong công cuộc hoàn thiện phƣơng thức lập dự toán NSNN tỉnh Hậu Giang. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị Nội dung chính của chƣơng này sẽ trình bày các phát hiện mới của luận văn cũng nhƣ những hạn chế mà luận văn chƣa giải quyết đƣợc và kiến nghị hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
3 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về ngân sách nhà nƣớc 2.1 Khái niệm ngân sách nhà nước (NSNN) Thuật ngữ “ngân sách” đƣợc bắt nguồn từ thuật ngữ “budjet” một từ tiếng Anh thời trung cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng. Dƣới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho những mục đích công cộng nhƣ: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đƣờng xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau. Khi giai cấp tƣ sản lớn mạnh từng bƣớc khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó xuất hiện khái niệm “Ngân sách nhà nƣớc” (Trần Văn Giao, 2011, tr. Theo luật ngân sách nhà nƣớc ban hành năm 2002 của quốc hội thì “Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”.
Trong một chừng mực nào đó, các định nghĩa trên có những sự khác biệt nhất định. Nhƣng về bản chất của ngân sách nhà nƣớc, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nƣớc với các chủ thể khác nhƣ doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nƣớc gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách.2 Đặc điểm ngân sách nhà nước NSNN đƣợc thể hiện qua các đặc điểm: Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của nhà nƣớc và việc thực hiện các chức năng của nhà nƣớc. Nói một cách cụ thể hơn, quyền lực của nhà nƣớc và các chức năng của nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu chi của NSNN. Các hoạt động thu, chi NSNN đều đƣợc tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
Đó là các Luật thuế, các chế độ thu, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu…do Nhà nƣớc ban hành. Việc dựa trên cơ sở pháp luật để tổ chức các hoạt động thu, chi của NSNN là một yếu tố có tính khách quan, bắt nguồn từ phạm vi hoạt động của NSNN đƣợc tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động tới mọi chủ thể kinh tế, xã hội. 4 Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN, quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nƣớc là từ giá trị sản phẩm thặng dƣ của xã hội và đƣợc hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến. Sau các hoạt động thu, chi NSNN là việc xử lý các mối quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia.3 Vai trò của ngân sách nhà nước Trong cơ chế thị trƣờng, mọi hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh chủ yếu của các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế chủ yếu tuân theo sự điều tiết của các quy luật vốn có của thị trƣờng.
Nhận thức đƣợc điều đó, Nhà nƣớc ta đã có những cơ chế, chính sách hạn chế sự can thiệp và kiểm soát trực tiếp đối với các hoạt động kinh tế, nhất là các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nƣớc ta với chức năng của mình là thực hiện quản lý hành chính kinh tế bằng các công cụ pháp luật, kế hoạch hoá và các chính sách do Nhà nƣớc ban hành tuân theo pháp luật hiện hành do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội ban hành. Đó chính là sự đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý của Nhà nƣớc ta: từ chỗ quản lý, điều hành nên kinh tế một cách trực tiếp đến chỗ quản lý và điều hành mọi hoạt động kinh tế- xã hội thông qua việc tạo mọi điều kiện, môi trƣờng, hành lang (trong đó có cả hành lang pháp lý) để cho nền kinh tế phát triển vừa tuân theo qui lụt kinh tế khách quan, vừa bảo đảm sự định hƣớng XHCN, nhằm nhanh chóng đạt đƣợc các mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra trong các kỳ đại hội. Trong tất cả các công cụ để quản lý mọi hoạt động kinh tế- xã hội, Nhà nƣớc ta hết sức quan tâm đến công cụ NSNN, vì nó là yếu tố vật chất vô cùng quan trọng trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN.
Với cơ chế cũ trƣớc đây, Nhà nƣớc can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế vi mô. Trong cơ chế mới- cơ chế thị trƣờng các vấn đề của kinh tế sẽ đƣợc giải quyết theo qui luật của thị trƣờng và các quan hệ cung- cầu. Nhà nƣớc chỉ dùng các biện pháp về thuế, các khoản chi ngân sách để can thiệp nhằm ổn định nên kinh tế và phát triển theo mục tiêu đã định. Hoạt động của NSNN gắn với hoạt động của nền kinh tế thị trƣờng, do đó thu NSNN luôn luôn biến đổi và phụ thuộc vào nhịp độ phát triển kinh tế và hiệu quả kinh tế.
Xu hƣớng chung là khi nền kinh tế tăng trƣởng sẽ làm tăng khả năng tăng khối lƣợng thu và ngƣợc lại. Tuy nhiên, điều cần lƣu ý ở đây là mức thu NSNN phải gắn với nhịp độ tăng của nền kinh tế, nếu tận thu quá mức sẽ dẫn tới tình trạng suy thoái do không kích thích đƣợc sản xuất và đầu tƣ. Trong bất kỳ tình huống nào, sức ép chi luôn luôn là gánh nặng cho NSNN. 5 Đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi mà nền kinh tế chƣa kịp phát triển, trong khi đó phải nhanh chóng giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của xã hội.
Bên cạnh đó chi NSNN còn bị sức ép của tình trạng có lạm phát cao xẩy ra. Khi có lạm phát cao thì khối lƣợng ngân sách tăng chậm hơn nhu cầu chi, vì vậy nếu xử lý không tốt sẽ dẫn đến rối loạn, gây thiệt hại về nhiều mặt cho nền kinh tế. Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng. Bởi lẽ NSNN có chức năng huy động nguồn lực tài chính để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung, đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc.
Đồng thời NSNN còn thực hiện cân đối bằng tiền giữa các khoản thu và các khoản chi tiêu của Nhà nƣớc. Đây là vai trò cơ bản của NSNN mà bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thực hiện. NSNN là một công cụ quản lý quan trọng trong điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô của đất nƣớc, đặc biệt thể hiện rất rõ trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Vai trò đó đã đƣợc thể hiện cụ thể ở các lĩnh vực sau: - Về kinh tế: Nhà nƣớc tạo các môi trƣờng và điều kiện để xây dựng cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.
NSNN đảm bảo cung cấp kinh phí đầu tƣ xây dựng và nâng cấp cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp Nhà nƣớc thuộc các ngành kinh tế, các lĩnh vực kinh tế then chốt. Trên cơ sở đó từng bƣớc làm cho kinh tế Nhà nƣớc đảm đƣơng đƣợc vai trò chủ đạo nền kinh tế nhiều thành phần. Mặt khác, trong những điều kiện cho phép thì nguồn kinh phí từ NSNN cũng có thể đƣợc sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc các TPKT khác để các doanh nghiệp đó có cơ sở về tài chính tốt hơn và do đó có đƣợc phƣơng hƣớng kinh doanh có hiệu quả hơn. - Về mặt xã hội: Thông qua hoạt động thu, chi NSNN cấp phát kinh phí cho tất cả các lĩnh vực hoạt động vì mục đích phúc lợi xã hội.
Thông qua công cụ ngân sách, Nhà nƣớc có thể điều chỉnh các mặt hoạt động trong đời sống xã hội nhƣ: Thông qua chính sách thuế để kích thích sản xuất đối với những sản phẩm cần thiết cấp bách, đồng thời có thể hạn chế sản xuất những sản phẩm không cần khuyến khích sản xuất. Hoặc để hƣớng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý. Thông qua nguồn vốn ngân sách để thực hiện hình thức trợ cấp giá đối với các hoạt động thuộc chính sách dân số, chính sách việc làm, chính sách thu nhập, chính sách bảo trợ xã hội v. - Về thị trƣờng: Thông qua các khoản thu, chi NSNN sẽ góp phần bình ổn giá cả thị trƣờng.
Ta biết rằng, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, sự biến động giá cả đến mức gây ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển nền kinh tế có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung - cầu. Bằng công cụ thuế và dự trữ Nhà nƣớc can thiệp 6 đến quan hệ cung - cầu và bình ổn giá cả thị trƣờng. Hoạt động thu chi NSNN có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế.
Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Để kiềm chế đƣợc lạm phát tất yếu phải dùng các biện pháp để hạ thấp giá, hạ thấp chi phí. Bằng biện pháp giải quyết tốt thu chi NSNN có thể kiềm chế, đẩy lùi đƣợc lạm phát, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.4 Chức năng của ngân sách nhà nước a.