Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cho vay tiêu dùng và hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Hợp tác. Chương 2: Thực trang hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG HỢP TÁC 1.
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG HỢP TÁC VÀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG HỢP TÁC 1. Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng hợp tác 1. Khái niệm Ngân hàng Hợp tác Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam được thành lập trên cơ sở của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác do các thành viên trong địa bàn tự nguyện thành lập và hoạt động theo quy định của Nghị định này nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên (Nghị định số: 48/2001/NĐ-CP Về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân).
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là tổ chức tín dụng hợp tác do các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cùng nhau thành lập nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (Nghị đinh số: 48/2001/NĐ-CP Về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân) Ngân hàng hợp tác là loại hình cao nhất trong hệ thống các tổ chức tín dụng hợp tác. Nó là tổ chức thuộc sở hữu tập thể hoặc cổ phần được thành lập bởi các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế; Ngân hàng Hợp tác được thực hiện mọi nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng theo mô hình ngân hàng đa năng. Các ngân hàng có thể huy động vốn và cho vay cả các thành viên và không thành viên cũng như không giới hạn về địa bàn hoạt động [3]. Và theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 quy định: “Ngân hàng Hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các Quỹ tín dụng nhân dân do các Quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật này 6 nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các Quỹ tín dụng nhân dân.
Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Hợp tác Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng hợp tác bao gồm: * Huy động vốn: Theo đó, Ngân hàng Hợp tác nhận tiền gửi của các Quỹ tín dụng thành viên để cân đối điều hoà trong toàn hệ thống theo cơ chế để cho vay. Huy động vốn trong nước và vay vốn nước ngoài bằng đồng Việt Nam và bằng ngoại tệ, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ngắn hạn và dài hạn, tiếp nhận vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư của Nhà nước, các tổ chức quốc gia, quốc tế, cá nhân ở trong nước và nước ngoài cho các chương trình, dự án đầu tư và phát triển kinh tế. * Hoạt động cho vay: Cho vay các Quỹ tín dụng nhân dân thành viên và doanh nghiệp theo nguyên tắc ưu tiên đối với các tổ chức trong hệ thống. * Các nghiệp vụ kinh doanh khác: Ngoài ra Ngân hàng Hợp tác còn thực hiện các hoạt động khác như: - Nhận chiết khấu các giấy tờ có giá - Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh theo quy chế bảo lãnh của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước - Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý và làm các dịch vụ Ngân hàng đối ngoại theo giấy phép của Ngân hàng Nhà nước - Hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần của doanh nghiệp và đầu tư chứng khoán - Làm dịch vụ giữ hộ tài sản quý và các giấy tờ có giá - Thực hiện nghiệp vụ cầm cố, kinh doanh bất động sản - Làm dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, thu chi tiền mặt - Mua bán và làm đại lý mua bán tín phiếu, trái phiếu chính phủ, các tổ chức và doanh nghiệp trong nước và nước ngoài 7 - Tham gia thị trường liên Ngân hàng, thị trường tiền tệ ngắn hạn và thị trường chứng khoán quốc gia - Làm các dịch vụ tư vấn tài chính, Ngân hàng và đầu tư - Thực hiện các nghiệp vụ khác theo Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính.
Phân biệt giữa Ngân hàng Hợp tác và Ngân hàng thương mại Giống nhau: Đều là tổ chức cho vay với mục đích sinh lời Khác nhau: Sự khác nhau của NHTM và NHHT là ở nguyên tắc hoạt động và sự phân chia hình thức cho vay Bảng 1. Sự khác nhau giữa NHTM và NHHT NHTM Ngân hàng Hợp tác Nguyên tắc tổ chức và hoạt Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Hợp động NHTM dựa trên tác xã Việt Nam dựa trên nguyên tắc tổ chức và hoạt nguyên tắc tổ chức của Tổ động của Quỹ tín dụng nhân dân (Nghị đinh số Số: chức tín dụng theo luật tổ 48/2001/NĐ-CP Về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín chức tín dụng 2010. Theo dụng nhân dân): đó NHTM là tổ chức tín - Tự nguyện gia nhập và ra Quỹ tín dụng nhân dân: Mọi dụng, được hoạt động kinh công dân Việt Nam, các hộ gia đình và các đối tượng doanh các hoạt động thuộc khác có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 21 Nghị lĩnh vực ngân hàng và các định này đều có thể trở thành thành viên Quỹ tín dụng hoạt động khác nhằm mục nhân dân; thành viên có quyền ra Quỹ tín dụng nhân dân tiêu sinh lời theo quy định của điều lệ Quỹ tín dụng nhân dân. - Quản lý dân chủ và bình đẳng: Thành viên Quỹ tín dụng nhân dân có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát Quỹ tín dụng nhân dân và có quyền ngang nhau trong biểu quyết.
- Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: Quỹ tín dụng nhân dân tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình; tự quyết định về phân phối thu nhập, bảo đảm Quỹ tín dụng nhân dân và thành viên cùng có lợi. - Chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát triển của Quỹ tín dụng nhân dân: Sau khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi còn lại được trích một phần vào các quỹ của Quỹ tín dụng nhân dân, một phần chia theo 8 vốn góp của thành viên, phần còn lại chia cho thành viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của Quỹ tín dụng nhân dân do Đại hội thành viên quyết định. - Hợp tác và phát triển cộng đồng: Thành viên phải phát huy tinh thần tập thể, nâng cao ý thức hợp tác trong Quỹ tín dụng nhân dân và trong cộng đồng xã hội; hợp tác giữa các Quỹ tín dụng nhân dân với nhau ở trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật. - Số lượng thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân không hạn chế, nhưng tối thiểu phải có 30 thành viên.
NHTM không phân biệt cho Ngân hàng Hợp tác xã có sự phân chia cho vay trong hệ vay theo hình thức cho vay thống Ngân hàng Hợp tác xã và cho vay ngoài hệ thống ngoài hệ thống và cho vay Ngân hàng Hợp tác xã. trong hệ thống - Cho vay trong hệ thống Ngân hàng Hợp tác xã là cho vay các thành viên thuộc hệ thống của Quỹ tín dụng nhân dân. Hệ thống này bao gồm 1146 Quỹ tín dụng nhân dân thành viên ở các xã, phường trong phạm vi toàn quốc. - Cho vay ngoài hệ thống Ngân hàng Hợp tác xã là các đối tượng khác như cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp…không phải là thành viên thuộc hệ thống của Quỹ.
Cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Hợp tác 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Cùng với sự phát triểu không ngừng về kinh tế - xã hội trong những năm qua, nhu cầu về vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, nguồn tài chính đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của người dân hiện tại đôi khi chưa phù hợp với nguồn thu nhập hiện tại. Do đó, các ngân hàng đã dưa ra một lĩnh vực tín dụng mới đó là cho vay tiêu dùng.
Sự ra đời của hoạt động cho vay tiêu dung đã giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán của cá nhân người dùng trong hiện tại. Vì vậy, cho vay tiêu dùng đã nhanh chóng trở thành thị trường lớn đầy tiềm năng và hấp đẫn với các ngân hàng. Việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng 9 không những giải quyết được mâu thuẫn cơ bản nêu trên mà còn là một trong những khoản mục tài sản mang lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng. Các khoản cho vay tiêu dùng là một phương thức hữu hiệu để giải quyết những nhu cầu cấp bách về vốn của các cá nhân và hộ gia đình như nhu cầu về nhà ở, phương tiệu đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, khám chữa bệnh…, từ đó góp phần cải thiện mức sống của người tiêu dùng với cam kết hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ, đúng thời hạn khi họ xoay sở được nguồn tài chính của mình.
Như vậy, cho vay tiêu dùng là một hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền vào mục đích tiêu dùng, với nguyên tắc là khách hàng phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Đặc điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng * Đối tượng vay tiêu dùng Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình. Vì vậy, cho vay tiêu dùng còn tùy thuộc vào trình độ dân trí và thu nhập của họ. Cụ thể: Những người có thu nhập cao hay những gia đình mà người chủ gia đình, người tạo ra thu nhập chính cho gia đình có học vấn cao thường có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hằng năm của mình.
Với họ, việc vay mượn là một công cụ để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một lựa chọn chỉ được dùng trong tình trạng khẩn cấp. Đối với các đối tượng này vay tiêu dùng nhằm tăng thêm khả năng thanh toán và coi nó như một khản vay linh hoạt để chi tiêu khi mà tiền vốn tích lũy của mình đã đầu tư trung và dài hạn. Những người có thu nhập trung bình thường vay mượn để mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền hơn là dùng chính tiền tích lũy, dự phòng của mình để trang trải cho những nhu cầu này.