Tổng quan nghiên cứu

Thị trường chè thế giới và nội địa những năm qua ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ về nhu cầu chất lượng và thương hiệu. Trong 3 tháng đầu năm 2017, xuất khẩu chè của Việt Nam đạt khoảng 26.000 tấn với giá trị 38 triệu USD, tăng 12,6% về lượng và 6,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Tuy vậy, hơn 90% sản lượng xuất khẩu vẫn ở dạng thô, và mức tiêu thụ nội địa bình quân chỉ đạt 300 gram/người/năm, tương đương 30.000 tấn/năm cho quy mô gần 90 triệu dân.

Huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang sở hữu điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi với diện tích đất nông nghiệp chiếm 84,55% (25.874,8 ha) và 13.285,11 ha đất lâm nghiệp đồi núi thấp. Dù đã hình thành các vùng trồng tập trung tại 8 xã, hoạt động tiêu thụ chè tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản: giống cây già cỗi, quy mô nông hộ phân tán, công nghệ sơ chế lạc hậu và mối liên kết chuỗi giá trị chưa bền vững.

Đề tài tập trung phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm chè xanh huyện Yên Thế giai đoạn 2013 - 2017 (trọng tâm là chu kỳ 2015 - 2017), xác định các yếu tố cản trở và đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy thương mại hóa bền vững.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp địa phương nâng tốc độ tăng trưởng tiêu thụ chè chế biến đóng gói từ mức 22,82% lên trên 30%/năm, gia tăng thu nhập cho hơn 1.000 hộ trồng chè và định hình thương hiệu nông sản đặc sản vùng trung du miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản trị tiêu thụ hiện đại của Philip Kotler, xác định tiêu thụ là quá trình quản trị lưu thông hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và thỏa mãn thị trường. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết kinh tế nông nghiệp của Võ Phước Tấn về việc chuyển giao quyền sở hữu nông sản gắn với điều hòa các tổ chức trung gian thương mại.

Mô hình nghiên cứu chuỗi giá trị và liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông) của Dương Bá Phượng được sử dụng để phân tích quan hệ tương hỗ giữa các tác nhân. Khung phân tích lồng ghép các tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn như quy trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM của FAO và tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt VietGAP ban hành theo Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Các khái niệm cốt lõi được hệ thống hóa gồm: tiêu thụ nông sản, giải pháp tiêu thụ chè, liên kết dọc - liên kết ngang trong chuỗi giá trị, và nhãn hiệu tập thể gắn với chỉ dẫn địa lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Yên Thế, báo cáo tổng kết của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đề án phát triển cây chè giai đoạn 2015 - 2017.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp trong giai đoạn 2017 - 2018 thông qua phỏng vấn sâu và bảng hỏi cấu trúc với cỡ mẫu 270 đối tượng phân tầng, bao gồm: 105 hộ sản xuất chè, 60 thương lái và đại lý thu mua, 60 khách hàng tiêu dùng, 15 hợp tác xã cùng doanh nghiệp chế biến, và 30 cán bộ quản lý địa phương tại 3 xã trọng điểm là Xuân Lương, Canh Nậu, Tam Tiến. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ chuỗi cung ứng.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thống kê mô tả để lượng hóa quy mô, phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối để đánh giá tốc độ tăng trưởng, cùng phương pháp hạch toán kinh tế nhằm xác định chi phí, doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng của từng tác nhân trong 4 kênh tiêu thụ chính. Việc kết hợp các phương pháp này giúp bóc tách chính xác những nút thắt phân phối và mức độ phân bổ lợi ích dọc theo chuỗi giá trị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, sản xuất chè tại Yên Thế mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét nhưng chi phí còn biến động lớn. Chi phí sản xuất bình quân 1 kg chè búp khô dao động từ 43.000 đến 75.000 đồng/kg, trong khi giá bán trên thị trường đạt từ 150.000 đến 350.000 đồng/kg. Lợi nhuận của hộ trồng chè đạt mức khá nhưng phụ thuộc nhiều vào chất lượng búp tươi và kỹ thuật sao sấy.

Thứ hai, xây dựng thương hiệu tạo ra bước ngoặc tiêu thụ rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng sản lượng tiêu thụ chè khô chưa đóng gói chỉ đạt bình quân 4,8%/năm. Ngược lại, sản phẩm chè sơ chế đóng gói đạt mức tăng trưởng 22,82%/năm. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2016 - 2017 sau khi sản phẩm được cấp chứng nhận nhãn hiệu tập thể, tốc độ tăng trưởng tiêu thụ đã bứt phá lên 29,21%.

Thứ ba, cấu trúc kênh phân phối còn mất cân đối. 100% sản lượng chè địa phương là chè xanh và chè xanh đặc sản (Chè Bản Ven, Chè Lộc Vàng). Dù vậy, hơn 85% sản lượng vẫn tiêu thụ tự do qua thương lái và các chợ truyền thống qua 4 kênh chính; tỷ lệ ký kết hợp đồng tiêu thụ trực tiếp với doanh nghiệp và hợp tác xã chỉ chiếm dưới 5%. Giá trị gia tăng của chuỗi dồn phần lớn vào khâu bán buôn và bán lẻ, trong khi người trực tiếp sản xuất nhận phần giá trị gia tăng thấp nhất.

Thứ tư, công tác xúc tiến thương mại bước đầu phát huy tác dụng. Huyện đã tổ chức hội chợ thương mại quy tụ hơn 150 gian hàng, trong đó bố trí 6 gian hàng chuyên biệt giới thiệu đặc sản Chè xanh Bản Ven, Chè xanh Yên Thế cùng các nông sản chủ lực, thu hút hàng chục nghìn lượt khách tiếp cận sản phẩm.

Thảo luận kết quả

Thực trạng giá trị gia tăng thấp ở người sản xuất xuất phát từ việc công nghệ chế biến tại hộ gia đình còn thủ công, tỷ lệ trang bị máy sao tôn inox và máy hút chân không đạt tỷ lệ thấp. Việc thiếu liên kết hợp đồng khiến nông dân chịu rủi ro ép giá khi bước vào thời điểm thu hoạch rộ.

So sánh với các địa phương phát triển như tỉnh Thái Nguyên (tổ chức Festival Trà và mở rộng xuất khẩu sang Pakistan) hay mô hình OVOP tại Nhật Bản và OTOP tại Thái Lan (nơi hợp tác xã quy mô 80 - 120 ha kiểm soát toàn bộ chu trình kỹ thuật), chuỗi giá trị chè Yên Thế còn manh mún và thiếu đơn vị dẫn dắt đủ mạnh.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ phân bổ giá trị gia tăng giữa các kênh và bảng hạch toán chi phí - lợi nhuận đã chứng minh rằng: hoàn thiện khâu đóng gói bao bì, gắn mã tem nhãn và liên kết qua hợp tác xã là con đường ngắn nhất để nâng giá bán bình quân từ 150.000 đồng lên trên 300.000 đồng/kg chè thành phẩm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và nâng tầm quản trị thương hiệu chè: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các Hợp tác xã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu mở rộng cho sản phẩm Chè Bản Ven và Chè Yên Thế; chuẩn hóa 100% mẫu mã bao bì đóng gói hút chân không có mã QR truy xuất nguồn gốc; phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng tiêu thụ chè đóng gói đạt trên 30%/năm trong giai đoạn 2018 - 2022.

Thứ hai, tái thiết lập chuỗi liên kết bốn nhà: UBND huyện Yên Thế đóng vai trò kiến tạo chính sách, hỗ trợ thành lập các tổ hợp tác và hợp tác xã kiểu mới; thúc đẩy các doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu dài hạn với tối thiểu 40% sản lượng chè búp của các hộ xã viên, có điều khoản bảo hiểm giá sàn khi thị trường biến động trong năm 2019.

Thứ ba, đa dạng hóa phương thức xúc tiến thương mại: Đưa sản phẩm chè đạt chứng nhận vào các chuỗi siêu thị, điểm bán thực phẩm sạch tại Hà Nội, Bắc Giang và sàn giao dịch điện tử; duy trì việc tham gia từ 4 đến 6 hội chợ thương mại nông sản cấp vùng và quốc gia mỗi năm do Sở Công Thương tổ chức.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và quy hoạch vùng nguyên liệu: Trạm Khuyến nông huyện tổ chức chuyển giao kỹ thuật VietGAP và quản lý dịch hại IPM trên 100% diện tích chè thâm canh; tiến hành đốn cải tạo và thay thế 50% diện tích chè hạt già cỗi bằng các giống chè cành mới như LDP1, LDP2, PH1 (năng suất 15 - 20 tấn/ha) và các giống chất lượng cao như Kim Tuyên, Ngọc Thúy; mở rộng vùng chè an toàn đạt 300 ha tại 8 xã quy hoạch đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo và ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách cấp huyện, tỉnh: Luận văn cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá chính sách nông nghiệp, hỗ trợ công tác lập quy hoạch 8 xã vùng chè nguyên liệu và xây dựng các gói hỗ trợ vốn vay ưu đãi phát triển nông thôn mới.

  2. Ban quản trị Hợp tác xã và doanh nghiệp kinh doanh nông sản: Tài liệu hướng dẫn chi tiết cách thức xây dựng chuỗi liên kết ngang với 105 hộ sản xuất, chuẩn hóa kỹ thuật chế biến đóng gói nhằm nâng cao tỷ suất sinh lời lên trên 25% cho toàn chuỗi.

  3. Hộ nông dân và các chủ trang trại trồng chè: Cung cấp thông tin chi tiết về cơ cấu chi phí sản xuất (43.000 - 75.000 đồng/kg) cùng các quy trình kỹ thuật IPM, VietGAP và lựa chọn giống chè LDP1, LDP2 để đạt năng suất 15 - 20 tấn/ha búp tươi.

  4. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp bộ khung phương pháp luận hoàn chỉnh cùng dữ liệu khảo sát thực địa 270 mẫu để phục vụ nghiên cứu so sánh về chuỗi giá trị và kênh phân phối nông sản.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao sản phẩm chè đã đóng gói nhãn hiệu đạt tốc độ tăng trưởng tiêu thụ 22,82%, vượt trội so với chè thô chỉ đạt 4,8%? Sản phẩm đóng gói có tem nhãn tạo lập được niềm tin về an toàn vệ sinh thực phẩm và nguồn gốc xuất xứ đối với người tiêu dùng. Bao bì đạt chuẩn giúp bảo quản hương vị tốt hơn, cho phép sản phẩm tiếp cận phân khúc quà biếu và hệ thống bán lẻ hiện đại với mức giá 250.000 - 350.000 đồng/kg thay vì phụ thuộc chợ cóc.

Cỡ mẫu khảo sát 270 đối tượng phân tầng có ý nghĩa như thế nào đối với độ tin cậy của nghiên cứu? Quy mô 270 mẫu được phân bổ khoa học gồm 105 hộ trồng chè, 60 thương lái, 60 người tiêu dùng, 15 hợp tác xã/doanh nghiệp và 30 cán bộ chuyên môn tại 3 xã trọng điểm. Cơ cấu đa tầng này phản ánh trọn vẹn mọi góc nhìn trong chuỗi cung ứng, loại bỏ định kiến đơn chiều và giúp các kết luận thống kê đạt độ tin cậy cao.

Chi phí đầu tư và biên lợi nhuận bình quân của 1 kg chè khô tại Yên Thế hiện nay là bao nhiêu? Chi phí sản xuất 1 kg chè khô dao động từ 43.000 đến 75.000 đồng, phụ thuộc vào mức độ đầu tư phân bón hữu cơ và công nghệ sao sấy. Với giá bán phổ biến từ 150.000 đến 350.000 đồng/kg, các hộ trồng chè áp dụng kỹ thuật an toàn thu được tỷ suất lợi nhuận ròng trên 50%, cao hơn hẳn các cây hoa màu truyền thống.

Những giống chè nào được khuyến nghị đưa vào thay thế diện tích chè hạt già cỗi tại địa phương? Nghiên cứu khuyến nghị thay thế bằng nhóm giống chè cành lai F1, F2 như LDP1, LDP2, PH1 có năng suất cao từ 15 đến 20 tấn/ha/năm, hàm lượng tanin trên 30%. Đồng thời, cần mở rộng các giống chè đặc sản như Kim Tuyên, Ngọc Thúy nhằm phục vụ chế biến chè xanh cao cấp, đáp ứng thị hiếu thị trường đô thị.

Liên kết bốn nhà giải quyết nút thắt lớn nhất nào trong chuỗi tiêu thụ chè tại Yên Thế? Liên kết 4 nhà phá vỡ tình trạng mua bán bấp bênh khi hơn 85% sản lượng đang phụ thuộc vào thương lái trung gian. Mô hình này thiết lập hợp đồng bao tiêu ổn định từ doanh nghiệp, cung cấp quy trình kỹ thuật chuẩn từ nhà khoa học và chính sách hỗ trợ hạ tầng từ nhà nước, bảo vệ tối đa lợi ích của người nông dân.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tiêu thụ nông sản và phát triển chuỗi giá trị chè xanh tại địa bàn cấp huyện miền núi.
  • Thực trạng tiêu thụ tại Yên Thế cho thấy hiệu quả kinh tế cao với giá bán 150.000 - 350.000 đồng/kg, nhưng còn điểm nghẽn lớn khi hơn 85% sản lượng phụ thuộc vào thương lái tự do.
  • Nghiên cứu chứng minh vai trò đòn bẩy của thương hiệu: sau khi có nhãn hiệu tập thể, tốc độ tăng trưởng tiêu thụ đã tăng vọt lên mức 29,21%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp căn cơ: hoàn thiện nhãn hiệu, tái cấu trúc liên kết 4 nhà, mở rộng thị trường qua xúc tiến thương mại và chuẩn hóa 300 ha vùng chè VietGAP bằng giống mới LDP1, LDP2.
  • Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng 270 mẫu khảo sát làm căn cứ tin cậy cho công tác chỉ đạo sản xuất và phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Yên Thế giai đoạn 2018 - 2025.

Trong thời gian tới, các cơ quan ban ngành huyện Yên Thế cần khẩn trương ban hành đề án hỗ trợ kinh phí đóng gói, chuyển giao kỹ thuật và thúc đẩy liên kết bao tiêu để khai phóng toàn diện tiềm năng của cây chè địa phương. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu có thể tham khảo chi tiết toàn văn công trình để ứng dụng vào các mô hình phát triển nông sản chuỗi giá trị tương tự.