Tổng quan nghiên cứu

Quy mô chi tiêu mua sắm công tại Việt Nam thông qua hoạt động đấu thầu ước tính đạt trên 20 tỷ USD mỗi năm, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi ngân sách nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển. Tuy nhiên, phương thức đấu thầu truyền thống bằng hồ sơ giấy bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng như thời gian chuẩn bị kéo dài trung bình 45 ngày cho một quy trình, chi phí in ấn và đi lại tốn kém, hiện tượng thông thầu cùng sự can thiệp thiếu minh bạch vào kết quả lựa chọn nhà thầu. Trước yêu cầu cấp bách của tiến trình cải cách hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử, việc chuyển đổi sang phương thức đấu thầu qua mạng là xu thế tất yếu nhằm lành mạnh hóa thị trường mua sắm công.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Hoàng Ngọc Bích, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Đình Ánh tại Học viện Khoa học Xã hội, tập trung giải quyết vấn đề nâng cao hiệu quả quản trị chi tiêu công thông qua công nghệ thông tin. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về đấu thầu điện tử, phân tích toàn diện thực trạng triển khai hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, chỉ rõ các nguyên nhân cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy hoàn thành lộ trình số hóa 100% hoạt động đấu thầu trong tương lai.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các gói thầu sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2017, với trọng tâm phân tích sâu giai đoạn thực thi các văn bản pháp lý từ năm 2013 đến 2017. Nghiên cứu cũng mở rộng phạm vi so sánh kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt đối chiếu với mô hình đấu thầu điện tử KONEPS của Hàn Quốc và hệ thống PhilGEPS của Philippines. Ý nghĩa thực tiễn của công trình được chứng minh qua các chỉ số định lượng: nếu triển khai thành công đấu thầu qua mạng trên quy mô toàn quốc, Việt Nam có thể tiết kiệm từ 3% đến 20% chi phí tổ chức đấu thầu, tương đương mức cắt giảm chi tiêu ngân sách từ 600 triệu USD đến 4 tỷ USD mỗi năm, đồng thời tiết kiệm 10% chi phí mua sắm tài sản thường xuyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa Lý thuyết Quản lý công mới, Lý thuyết Kinh tế học thể chế và Khung lý thuyết Chính phủ điện tử trong quản trị công hiện đại. Hoạt động đấu thầu được tiếp cận dưới góc độ là phương thức giao dịch mua bán đặc thù của nền kinh tế thị trường, nơi chủ đầu tư tối ưu hóa nguồn lực công thông qua cơ chế cạnh tranh công khai, minh bạch.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:

  1. Đấu thầu mua sắm công: Quy trình lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, mua sắm hàng hóa và xây lắp theo quy định tại Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 nhằm bảo đảm cạnh tranh, công bằng và hiệu quả kinh tế.
  2. Đấu thầu qua mạng: Hoạt động lựa chọn nhà thầu được thực hiện trực tuyến trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, xóa bỏ rào cản không gian và thời gian.
  3. Chi phí giao dịch công: Các khoản chi phí phát sinh trong quá trình phát hành hồ sơ mời thầu, nộp hồ sơ dự thầu, thẩm định và giám sát hợp đồng.
  4. Chữ ký số và an toàn dữ liệu: Công cụ kỹ thuật bắt buộc để xác thực tính pháp lý và bảo mật thông tin hồ sơ thầu trên môi trường Internet.

Theo các khảo sát quốc tế về hiệu quả mua sắm công điện tử, hệ thống MERX của Canada đã chứng minh khả năng tiết kiệm 15% ngân sách, trong khi hệ thống GCAT tại Anh giúp tiết kiệm 10% chi phí. Những bằng chứng này củng cố nền tảng lý luận rằng việc số hóa quy trình mua sắm công trực tiếp cắt giảm chi phí trung gian và gia tăng giá trị thặng dư cho ngân sách quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chính thống được thu thập từ Cục Quản lý Đấu thầu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo Đấu thầu, các báo cáo tài chính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2017, dữ liệu kinh tế từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Báo cáo kiểm tra tốc độ kết nối của tổ chức Ookla năm 2017.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 8.200 gói thầu điện tử thực hiện trong năm 2017 và 3.130 gói thầu trong năm 2016 trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với các gói thầu công khai trong giai đoạn thí điểm và triển khai chính thức từ năm 2009 đến 2017. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện tuyệt đối, phản ánh chính xác bức tranh thực tế của hoạt động đấu thầu điện tử tại Việt Nam mà không bị sai số do chọn mẫu ngẫu nhiên.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh định lượng và phương pháp tổng hợp liên ngành. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm đo lường chính xác các chỉ tiêu tiết kiệm ngân sách, phân tích sự thay đổi cơ cấu gói thầu theo thời gian và đánh giá mức độ tương thích so với lộ trình bắt buộc được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Timeline nghiên cứu được phân kỳ rõ nét thành hai giai đoạn: giai đoạn thí điểm 2009-2015 do KOICA tài trợ 3 triệu USD và giai đoạn tăng tốc thực hiện lộ trình pháp lý bắt buộc từ năm 2016 đến hết năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô và số lượng gói thầu đấu thầu qua mạng ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc nhưng vẫn chưa đạt chỉ tiêu theo lộ trình pháp lý. Năm 2016 là năm đầu tiên thực hiện Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC, cả nước thực hiện 3.130 gói thầu điện tử với tổng giá gói thầu 3.020 tỷ đồng, tăng gấp 7 lần về số lượng gói và tăng 8 lần về tổng giá trị so với năm 2015. Đến năm 2017, số lượng gói thầu qua mạng đạt 8.200 gói với tổng giá trị 9.000 tỷ đồng, tăng hơn gấp đôi về số lượng gói so với năm 2016. Tuy nhiên, tỷ lệ này mới chỉ chiếm khoảng 12% tổng số gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu quy định tối thiểu 30% đối với chào hàng cạnh tranh và 15% đối với đấu thầu rộng rãi quy mô nhỏ.

Thứ hai, đấu thầu qua mạng mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội so với phương thức truyền thống. Thống kê giai đoạn 2016-2017 cho thấy tỷ lệ tiết kiệm thông qua đấu thầu điện tử duy trì ổn định ở mức 9%, cao hơn 2% so với tỷ lệ tiết kiệm 7% của đấu thầu trực tiếp bằng văn bản giấy. Riêng năm 2016, tổng giá trúng thầu qua mạng đạt 2.720 tỷ đồng trên tổng giá gói thầu 3.020 tỷ đồng, tiết kiệm trực tiếp 300 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước.

Thứ ba, cơ cấu gói thầu điện tử có sự phân hóa mạnh mẽ theo quy mô và lĩnh vực. Năm 2016, các gói thầu quy mô nhỏ dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 95% tổng số gói thầu qua mạng (tương đương 3.165 gói). Xét về cơ cấu lĩnh vực năm 2017, mua sắm hàng hóa chiếm tỷ trọng áp đảo với 64%, xây lắp chiếm 26%, trong khi dịch vụ phi tư vấn chỉ chiếm 10%. Số lượng nhà thầu tham gia bình quân đạt 2,67 nhà thầu trên một gói thầu điện tử trong năm 2017, cải thiện nhẹ so với mức 2,6 nhà thầu của năm 2016.

Thứ tư, mức độ sẵn sàng về hạ tầng và mức độ chủ động của các bên mời thầu còn nhiều khoảng trống. Tính đến ngày 31/12/2017, toàn hệ thống có 17.637 bên mời thầu và 62.018 nhà thầu đăng ký. Mặc dù vậy, tỷ lệ chủ đầu tư và bên mời thầu tự sử dụng chứng thư số để đăng tải thông tin theo quy định chỉ đạt 51%, trong khi 49% đơn vị còn lại vẫn sử dụng hình thức gửi phiếu đăng tải thủ công qua Báo Đấu thầu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến việc chưa hoàn thành chỉ tiêu lộ trình đấu thầu qua mạng bắt nguồn từ cả rào cản kỹ thuật công nghệ lẫn yếu tố tâm lý quản lý. Về mặt kỹ thuật, hệ thống muasamcong.vn xây dựng từ năm 2009 với sự hỗ trợ của Samsung SDS chỉ tương thích với trình duyệt Internet Explorer phiên bản 6 đến 10, dung lượng tệp tin tải lên bị giới hạn ở mức 20MB. Điều này ngăn cản việc tải lên các bộ hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu xây lắp quy mô lớn chứa nhiều bản vẽ kỹ thuật phức tạp.

Về mặt chủ quan, sự thiếu quyết liệt và tâm lý e ngại mất quyền kiểm soát quy trình của một bộ phận chủ đầu tư đã làm chậm quá trình chuyển đổi. So sánh với kinh nghiệm quốc tế, hệ thống KONEPS của Hàn Quốc đạt thành công vượt bậc khi tiết kiệm được 17,1 tỷ USD với tổng vốn đầu tư ban đầu 25 triệu USD, cắt giảm nhân sự mua sắm từ 1.058 xuống 935 người trong khi khối lượng giao dịch tăng 30%, đồng thời thực hiện thanh toán tự động trong vòng không quá 4 giờ. Tương tự, tại Romania, việc triển khai e-GP giúp tiết kiệm 22% ngân sách (tương đương 35,5 triệu USD trên tổng số 161,4 triệu USD giao dịch).

Để người đọc dễ dàng theo dõi, các dữ liệu thực trạng trong luận văn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện mức tăng trưởng số lượng gói thầu (từ 55 gói năm 2011 lên 3.130 gói năm 2016 và 8.200 gói năm 2017) đặt cạnh biểu đồ tròn phân bổ tỷ trọng lĩnh vực (hàng hóa 64%, xây lắp 26%, phi tư vấn 10%). Việc trình bày dữ liệu dạng trực quan sẽ làm nổi bật sự vượt trội về tỷ lệ tiết kiệm 9% của đấu thầu điện tử so với 7% của đấu thầu giấy truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy hoạt động đấu thầu qua mạng tại Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính hành động cao:

  1. Nâng cấp toàn diện hạ tầng công nghệ và mở rộng chuẩn tương thích: Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp cùng các đơn vị công nghệ thông tin tiến hành nâng cấp lõi hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, gỡ bỏ ràng buộc trình duyệt Internet Explorer, mở rộng khả năng hoạt động trên mọi trình duyệt hiện đại. Đồng thời, nâng dung lượng tệp tin đính kèm từ giới hạn 20MB lên tối thiểu 200MB để đáp ứng yêu cầu của các gói thầu xây lắp phức tạp, hoàn thành mục tiêu kỹ thuật này trong giai đoạn 2018-2019.
  2. Hoàn thiện khung pháp lý và siết chặt chế tài xử phạt: Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC, thiết lập chế tài xử lý nghiêm minh người đứng đầu cơ quan nếu không hoàn thành chỉ tiêu tối thiểu 40% chào hàng cạnh tranh và 30% đấu thầu rộng rãi quy mô nhỏ qua mạng từ năm 2018, hướng tới mục tiêu bắt buộc 100% gói thầu mua sắm công thực hiện trực tuyến vào năm 2025.
  3. Liên thông hệ thống thanh toán và phát triển dịch vụ bảo lãnh điện tử: Cục Quản lý Đấu thầu phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng thương mại thiết lập cơ chế kết nối tự động, cho phép nộp bảo đảm dự thầu điện tử và thanh toán hợp đồng tự động dưới 4 giờ tương tự mô hình KONEPS của Hàn Quốc, triển khai đồng bộ trong giai đoạn 2019-2021.
  4. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực và phổ cập chứng thư số: Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố và các Bộ, ngành tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu cho trên 2.000 cán bộ phụ trách công tác đấu thầu từ cấp tỉnh đến cấp xã, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ chủ đầu tư tự dùng chứng thư số từ 51% năm 2017 lên 85% vào năm 2019 và đạt 100% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và các kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu và chuyên viên hoạch định chính sách: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học, chuỗi số liệu thực chứng giai đoạn 2009-2017 và bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Philippines để Cục Quản lý Đấu thầu tham khảo hoàn thiện các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu.
  2. Chủ đầu tư và Ban Quản lý dự án các cấp: Giúp lãnh đạo đơn vị nắm rõ quy trình 5 bước đấu thầu qua mạng chuẩn hóa, ứng dụng giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao tỷ lệ tiết kiệm ngân sách từ mức bình quân 7% truyền thống lên mức 9% qua hệ thống điện tử.
  3. Doanh nghiệp và nhà thầu tham gia mua sắm công: Giúp các nhà thầu nhận diện rõ quyền lợi tiếp cận thông tin công khai, loại bỏ rào cản địa lý khi mua hồ sơ mời thầu, từ đó tối ưu hóa chi phí dự thầu và cải thiện dòng tiền cho doanh nghiệp.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị về chuyển đổi số trong khu vực công, làm cơ sở phát triển các công trình nghiên cứu sâu hơn về Chính phủ số và kinh tế số tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Đấu thầu qua mạng mang lại hiệu quả tiết kiệm ngân sách cụ thể như thế nào so với đấu thầu truyền thống?
Số liệu thực tế tại Việt Nam giai đoạn 2016-2017 chứng minh đấu thầu qua mạng đạt tỷ lệ tiết kiệm 9%, cao hơn 2% so với mức 7% của đấu thầu truyền thống. Trên quy mô tổng thể, nếu số hóa hoàn toàn 20 tỷ USD giá trị gói thầu hàng năm, Việt Nam có thể tiết kiệm cho ngân sách từ 600 triệu USD đến 4 tỷ USD mỗi năm.

Lộ trình áp dụng đấu thầu qua mạng tại Việt Nam giai đoạn 2016-2018 được quy định ra sao?
Theo Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC, năm 2016 yêu cầu tối thiểu 20% gói chào hàng cạnh tranh và 10% gói quy mô nhỏ; năm 2017 nâng lên 30% chào hàng cạnh tranh và 15% gói quy mô nhỏ; từ năm 2018 quy định tối thiểu 40% chào hàng cạnh tranh và 30% gói quy mô nhỏ đấu thầu qua mạng.

Những điểm nghẽn kỹ thuật lớn nhất của hệ thống mạng đấu thầu quốc gia giai đoạn 2009-2017 là gì?
Hệ thống muasamcong.vn trong giai đoạn này chỉ hỗ trợ trình duyệt Internet Explorer phiên bản 6 đến 10 và giới hạn dung lượng tải tệp ở mức 20MB. Điều này khiến các gói thầu xây lắp quy mô lớn gặp khó khăn khi đăng tải hồ sơ, đồng thời tỷ lệ chủ đầu tư tự dùng chứng thư số năm 2017 mới chỉ đạt 51%.

Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu kinh tế nào khi triển khai hệ thống đấu thầu điện tử KONEPS?
Hàn Quốc đã tiết kiệm được 17,1 tỷ USD chi phí ngân sách với tổng mức đầu tư hệ thống ban đầu 25 triệu USD. Hệ thống giúp cắt giảm biên chế cơ quan mua sắm từ 1.058 xuống 935 người trong khi khối lượng công việc tăng 30%, đồng thời tự động hóa hoàn toàn quy trình thanh toán trong thời gian không quá 4 giờ.

Cơ cấu các lĩnh vực áp dụng đấu thầu qua mạng tại Việt Nam có đặc điểm gì nổi bật?
Dữ liệu năm 2017 chỉ ra rằng mua sắm hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất với 64%, xây lắp chiếm 26%, còn dịch vụ phi tư vấn chỉ chiếm 10%. Ngoài ra, các gói thầu có giá trị dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 95% tổng số gói thầu điện tử được thực hiện trên toàn quốc.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đấu thầu điện tử và làm rõ mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu qua mạng tại Việt Nam.
  • Đánh giá xác thực kết quả thực thi giai đoạn 2009-2017, ghi nhận sự bứt phá từ 55 gói thầu năm 2011 lên 8.200 gói thầu năm 2017 với tỷ lệ tiết kiệm ngân sách ấn tượng đạt mức 9%.
  • Nhận diện chính xác các rào cản kỹ thuật như giới hạn dung lượng 20MB trên hệ thống và tâm lý trì trệ khiến tỷ lệ thực hiện năm 2017 mới chỉ đạt 12% so với lộ trình đề ra.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ mô hình KONEPS của Hàn Quốc (tiết kiệm 17,1 tỷ USD) và PhilGEPS của Philippines về công khai thông tin và quyết tâm chính trị.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về nâng cấp công nghệ, hoàn thiện chế tài pháp lý, tự động hóa thanh toán và đào tạo nhân lực hướng tới mốc chuyển đổi số toàn diện vào năm 2025.

Công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Bích là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cao cho các nhà quản lý kinh tế và chủ đầu tư trong tiến trình hiện đại hóa mua sắm công. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần chủ động chuyển đổi, đẩy mạnh áp dụng đấu thầu qua mạng ngay hôm nay để chung tay kiến tạo một môi trường đầu tư công khai, minh bạch và tiết kiệm tối đa nguồn lực quốc gia.