Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại Việt Nam là một trọng tâm tái cơ cấu kinh tế quan trọng, song tốc độ thực hiện trong giai đoạn 2007 - 2009 lại suy giảm đáng kể. Tính đến tháng 6/2009, cả nước vẫn còn tới 1.546 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chưa hoàn thành chuyển đổi trước thời hạn quy định (01/07/2010), với tổng lượng vốn nhà nước ước tính hơn 410 nghìn tỷ đồng. Trong đó, khối DNNN đóng góp gần 40% GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản xuất công nghiệp và hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nhưng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa năm 2007 chỉ đạt 21% (116 doanh nghiệp) và năm 2008 chỉ đạt 25% (98 doanh nghiệp).

Vấn đề then chốt dẫn đến tình trạng ách tắc này nằm ở khâu thẩm định giá tài sản, đặc biệt là quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế vị trí địa lý. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là phân tích cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng pháp lý, quy trình định giá bất động sản trong cổ phần hóa DNNN tại Việt Nam qua 5 giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2009. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các đô thị lớn có thị trường bất động sản biến động mạnh như TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc làm rõ các bất cập của cơ chế tính giá trị đất đai, ngăn chặn nguy cơ thất thoát hàng trăm nghìn tỷ đồng tài sản công, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp tài chính - pháp lý đồng bộ nhằm khơi thông tiến độ cổ phần hóa cho hơn 1.000 doanh nghiệp độc lập và các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế thị trường về giá cả, quan hệ cung - cầu và lý thuyết giá trị tài sản. Đặc tính cố định, tính không đồng nhất và độ co giãn cung kém khiến thị trường bất động sản chịu sự chi phối mạnh mẽ từ các yếu tố vị trí tự nhiên, pháp lý và môi trường kinh tế vĩ mô.

Hệ thống khung phân tích thẩm định giá áp dụng Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam (TĐGVN) ban hành kèm theo các Quyết định 24/2005/QĐ-BTC, Quyết định 77/2005/QĐ-BTC và Quyết định 129/2008/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, bao gồm 5 phương pháp cốt lõi:

  • Phương pháp so sánh (TĐGVN 07)
  • Phương pháp chi phí (TĐGVN 08)
  • Phương pháp thu nhập (TĐGVN 09)
  • Phương pháp thặng dư (TĐGVN 10)
  • Phương pháp lợi nhuận (TĐGVN 11)

Bên cạnh đó, đề tài làm rõ 4 khái niệm trung tâm:

  1. Giá trị thị trường (ước tính trên giao dịch độc lập, khách quan giữa người mua và người bán sẵn sàng giao dịch trong điều kiện thương mại bình thường);
  2. Giá trị phi thị trường (giá trị tài sản đang sử dụng, giá trị đầu tư hoặc thanh lý bắt buộc);
  3. Giá trị quyền sử dụng đất (xác định theo Điều 4 Luật Đất đai 2003);
  4. Giá trị lợi thế vị trí địa lý (khoản chênh lệch giữa giá thị trường trong điều kiện bình thường và khung giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hàng năm theo Thông tư 146/2007/TT-BTC).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp quy từ năm 1990 đến năm 2009 (Luật Công ty 1990, Luật Đất đai 1993 và 2003, Nghị định 44/1998/NĐ-CP, Nghị định 64/2002/NĐ-CP, Nghị định 187/2004/NĐ-CP, Nghị định 109/2007/NĐ-CP), các báo cáo của Tổng cục Thống kê, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Ban Đổi mới Quản lý Doanh nghiệp.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ tập dữ liệu 4.447 doanh nghiệp đã được sắp xếp từ năm 1992 đến tháng 8/2006, cùng các mẫu khảo sát chuyên sâu tại các doanh nghiệp điển hình: Công ty TNHH MTV Bến xe Miền Đông, Công ty Đầu tư Hạ tầng Sài Gòn, Công ty Du lịch Bến Thành, Công ty XNK Intimex và Công ty Kem Tràng Tiền.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào các doanh nghiệp quản lý quỹ đất đô thị quy mô lớn từ 1.500 m2 đến hơn 1.000.000 m2. Phương pháp phân tích bao gồm: phương pháp lịch sử - so sánh pháp lý, phương pháp thống kê mô tả, và phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF). Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm phản ánh sự thay đổi của chính sách qua từng giai đoạn và định lượng chính xác tác động của việc vốn hóa giá trị đất đai lên các chỉ số tài chính của doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức chênh lệch giữa khung giá đất do Nhà nước ban hành và giá thị trường thực tế dao động từ 4 đến 6 lần tại các đô thị lớn. Kết quả khảo sát biến động giá đất đường loại 2 tại Quận 2 (TP. Hồ Chí Minh) giai đoạn 2004 - 2009 cho thấy: năm 2004, giá thị trường đạt khoảng 5,8 - 6,2 triệu đồng/m2 trong khi khung giá nhà nước chỉ là 1,0 triệu đồng/m2; đến năm 2008, khi cầu Thủ Thiêm hoàn thành, giá thị trường tăng lên 21,8 - 22,2 triệu đồng/m2 so với mức giá nhà nước ban hành 1,3 triệu đồng/m2 (chênh lệch gấp hơn 16 lần). Tại trục đường Đồng Khởi (Quận 1), khung giá đất năm 2008 của UBND TP. Hồ Chí Minh là 67,5 triệu đồng/m2, nhưng giá giao dịch thực tế trên thị trường đạt 28 - 30 lượng vàng SJC/m2, tương đương 370 - 400 triệu đồng/m2 (cao gấp 5,5 đến 5,9 lần).

So sánh biến động giá đất đường loại 2 tại Quận 2, TP.HCM (2004 - 2009)
Đơn vị: Triệu đồng/m2

Thứ hai, cơ chế tính giá trị lợi thế vị trí địa lý theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP và Thông tư 146/2007/TT-BTC đã làm tăng quy mô giá trị doanh nghiệp lên hàng chục lần một cách cơ học. Điển hình tại Công ty Bến xe Miền Đông, giá trị doanh nghiệp xác định theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP là 60 tỷ đồng (lợi thế kinh doanh 9 tỷ đồng), nhưng khi áp dụng theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP đã tăng vọt lên 1.121 tỷ đồng với lợi thế vị trí địa lý lên tới 1.052 tỷ đồng (gấp 31,4 lần). Tương tự, Công ty Đầu tư Hạ tầng Sài Gòn ghi nhận mức tăng thêm 26 tỷ đồng, và Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành chênh lệch khoảng 800 tỷ đồng.

Thứ ba, việc tăng vốn chủ sở hữu ảo do định giá đất làm suy giảm nghiêm trọng hiệu quả tài chính. Chi phí trích khấu hao tài sản vô hình từ lợi thế vị trí địa lý đẩy giá thành lên cao, khiến tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các doanh nghiệp sau định giá theo cơ chế mới sụt giảm xuống mức bình quân chỉ đạt khoảng 1,9% (thấp hơn nhiều so với mức chuẩn 10% - 20% thông thường và thấp hơn cả lãi suất huy động ngân hàng), làm triệt tiêu sức hút đối với các nhà đầu tư trong các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO).

Tác động của việc tính Lợi thế Vị trí Địa lý lên Giá trị Doanh nghiệp

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các vướng mắc trên xuất phát từ sự mâu thuẫn giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất. Trước năm 2007, việc loại trừ giá trị quyền sử dụng đất thuê khỏi giá trị doanh nghiệp đã tạo ra kẽ hở trục lợi đất công. Điển hình là vụ việc Công ty Kem Tràng Tiền năm 2000 (sở hữu 1.500 m2 đất trung tâm với giá thuê thương mại khoảng 1 tỷ đồng/tháng nhưng chỉ được định giá doanh nghiệp 3,2 tỷ đồng) hoặc Công ty XNK Intimex năm 2007 (nắm giữ 2.800 m2 tại phố Lê Thái Tổ và gần 1,27 triệu m2 đất trên cả nước nhưng cổ phiếu bị thâu tóm với giá đấu cao gấp 16 lần giá khởi điểm nhờ thông tin đất đai).

Tuy nhiên, việc chuyển dịch sang Nghị định 109/2007/NĐ-CP lại tạo ra hiện tượng cực đoan ngược lại: bắt buộc doanh nghiệp thuê đất trả tiền hàng năm phải ghi nhận giá trị lợi thế vị trí vào tài sản vô hình và thực hiện trích khấu hao. Doanh nghiệp vừa phải nộp tiền thuê đất định kỳ, vừa phải gánh thêm chi phí khấu hao cho một tài sản mà mình không sở hữu vĩnh viễn, dẫn đến rủi ro mất trắng vốn nếu Nhà nước điều chỉnh quy hoạch đô thị và thu hồi đất.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ đường thể hiện khoảng cách giữa khung giá nhà nước và giá giao dịch thực tế, kết hợp biểu đồ cột mô tả tỷ lệ sụt giảm lợi nhuận (từ 15% xuống 1,9%) nhằm làm rõ sự phi lý của cơ chế vốn hóa quyền thuê đất.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản và CHLB Đức, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Sửa đổi Nghị định 109/2007/NĐ-CP về định giá lợi thế vị trí đất đai:

    • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi.
    • Nội dung hành động: Bãi bỏ quy định tính giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp đối với diện tích đất lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền hàng năm. Giá trị thương quyền và lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp cần được xác định khách quan thông qua cơ chế đấu giá công khai cổ phần trên thị trường chứng khoán.
    • Thời hạn hoàn thành: Quý II/2010.
  2. Cải cách cơ chế tính đơn giá thuê đất:

    • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường.
    • Nội dung hành động: Điều chỉnh đơn giá thuê đất của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa theo hướng sát với mặt bằng giá thị trường tại từng khu vực đô thị, áp dụng thời hạn ổn định chu kỳ 5 năm nhằm bảo đảm nguồn thu thường xuyên cho ngân sách nhà nước, nâng mức thu từ đất công tăng khoảng 15% - 20%/năm mà không làm biến dạng cấu trúc vốn điều lệ của doanh nghiệp.
  3. Xây dựng khung giá đất linh hoạt và chuẩn hóa cơ sở dữ liệu định giá:

    • Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
    • Nội dung hành động: Thiết lập hệ thống theo dõi giá đất chuyển nhượng thực tế và cập nhật dữ liệu định kỳ theo quý. Áp dụng các mô hình định giá hàng loạt và bản đồ giá đất theo kinh nghiệm của Thái Lan và Đức, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa bảng giá nhà nước và giá thị trường xuống dưới mức 20%.
  4. Tăng cường minh bạch thông tin và hoàn thiện thể chế thị trường bất động sản:

    • Chủ thể thực hiện: Quốc hội và Bộ Xây dựng.
    • Nội dung hành động: Sớm nghiên cứu ban hành Luật Thuế nhà đất nhằm hạn chế đầu cơ đất công, bắt buộc công khai quy hoạch và kết quả giao dịch bất động sản qua sàn giao dịch chuẩn hóa, ngăn chặn các hành vi chuyển nhượng ngầm quyền sử dụng đất sau cổ phần hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo Đổi mới Doanh nghiệp): Nắm bắt cơ sở thực tiễn để rà soát, sửa đổi các thông tư, nghị định hướng dẫn tài chính trong chuyển đổi sở hữu DNNN, bảo đảm tiến độ sắp xếp hơn 1.500 doanh nghiệp nhà nước giai đoạn chuyển tiếp.
  • Tổ chức thẩm định giá và Thẩm định viên: Tham khảo quy trình chuẩn 6 bước và khung so sánh 5 phương pháp định giá theo tiêu chuẩn Việt Nam (TĐGVN 07 - 11), nâng cao chất lượng lập chứng thư thẩm định giá tài sản doanh nghiệp.
  • Lãnh đạo và Ban Cổ phần hóa tại các DNNN: Xây dựng phương án sử dụng đất tối ưu, phân định rõ giữa phương án thuê đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất, tránh tình trạng đội vốn sổ sách làm giảm chỉ số tài chính khi chào bán cổ phần ra công chúng.
  • Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Thẩm định giá: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về mối quan hệ giữa định giá tài sản vô hình, thị trường bất động sản và thị trường vốn tại các nền kinh tế đang chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao việc tính giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP lại làm đình trệ cổ phần hóa?
Quy định này khiến giá trị doanh nghiệp bị thổi phồng lên từ 10 đến hơn 30 lần (như Bến xe Miền Đông tăng từ 60 tỷ lên 1.121 tỷ đồng). Doanh nghiệp phải gánh chi phí khấu hao tài sản vô hình quá lớn, làm tỷ suất lợi nhuận trên vốn tụt xuống chỉ còn 1,9%, khiến cổ phần không thể bán được cho nhà đầu tư bên ngoài.

2. Trước năm 2007, việc không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp đã gây thất thoát tài sản như thế nào?
Trước đây, đất thuê không được tính vào giá trị doanh nghiệp, tạo kẽ hở cho các nhà đầu tư thâu tóm doanh nghiệp thua lỗ nhưng có vị trí đất đắc địa với giá rẻ. Điển hình như vụ Kem Tràng Tiền (1.500 m2 đất trung tâm chỉ định giá 3,2 tỷ đồng) hoặc Intimex (giữ 1,27 triệu m2 đất nhưng lợi nhuận kinh doanh âm), gây thất thoát vốn lớn cho Nhà nước.

3. Mức chênh lệch giữa khung giá đất của Nhà nước và giá thị trường trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường thường cao gấp từ 4 đến 6 lần khung giá nhà nước ban hành. Điển hình tại đường Đồng Khởi (TP.HCM) năm 2008, giá thị trường đạt 370 - 400 triệu đồng/m2 trong khi bảng giá đất nhà nước chỉ ghi nhận mức tối đa 67,5 triệu đồng/m2.

4. Luận văn đề xuất áp dụng phương pháp thẩm định giá nào là chủ đạo cho bất động sản doanh nghiệp?
Đề tài khuyến nghị kết hợp phương pháp so sánh trực tiếp (TĐGVN 07) cho các thửa đất có giao dịch phổ biến và phương pháp thặng dư (TĐGVN 10) hoặc chiết khấu dòng tiền (DCF) đối với các khu đất có dự án phát triển, nhằm phản ánh đúng tiềm năng sinh lời thực tế của tài sản.

5. Giải pháp then chốt nào giúp vừa đẩy nhanh cổ phần hóa vừa tránh thất thoát quỹ đất nhà nước?
Giải pháp căn cơ là tách biệt giá trị đất thuê ra khỏi giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa, đồng thời áp dụng cơ chế thu tiền thuê đất hàng năm sát với giá thị trường và tổ chức đấu giá công khai, minh bạch quyền sử dụng đất nếu doanh nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định vướng mắc trong định giá đất đai và lợi thế địa lý là nguyên nhân cốt lõi khiến tỷ lệ cổ phần hóa giai đoạn 2007 - 2008 chỉ đạt từ 21% đến 25% kế hoạch.
  • Phân tích chi tiết sự vênh lệch lớn giữa bảng giá đất nhà nước và thị trường thực tế (chênh lệch từ 4 đến 6 lần tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh).
  • Chỉ rõ bất cập của Nghị định 109/2007/NĐ-CP khi vốn hóa lợi thế đất thuê khiến giá trị doanh nghiệp tăng ảo gấp hàng chục lần và kéo tỷ suất lợi nhuận sụt giảm xuống dưới 2%.
  • Tổng kết bài học quốc tế về quản lý và số hóa dữ liệu định giá đất đai từ Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản và Đức nhằm ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam.
  • Đóng góp hệ thống 4 giải pháp thực thi đồng bộ: sửa đổi quy định tính lợi thế vị trí, chuẩn hóa cơ chế giá thuê đất, hiện đại hóa bảng giá đất và minh bạch thị trường giao dịch.

Các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp trong diện chuyển đổi cần khẩn trương áp dụng các khuyến nghị của đề tài để hoàn thành mục tiêu tái cơ cấu khối doanh nghiệp nhà nước đúng lộ trình cam kết.