Tổng quan luận án
Cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong tiến trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước. Theo số liệu tổng hợp của Bộ Tài chính được luận án trích dẫn, tính đến ngày 25/5/2011, cả nước đã thực hiện sắp xếp, chuyển đổi 5.850 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp; trong đó CPH đạt 3.948 doanh nghiệp (chiếm 67% tổng số doanh nghiệp được sắp xếp). Tuy nhiên, sau gần 20 năm thực hiện CPH, hiệu quả sử dụng vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp sau CPH còn bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn tới nguy cơ thất thoát và không bảo toàn được vốn nhà nước (VNN). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những bất cập trong công tác quản lý VNN tại các doanh nghiệp này.
Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2000/NĐ-CP ngày 06/12/2000 ban hành Quy chế quản lý VNN ở doanh nghiệp khác và Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 về Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước và quản lý VNN đầu tư vào doanh nghiệp khác, hệ thống chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH vẫn chưa hoàn thiện, thiếu tính đồng bộ và chưa đáp ứng kịp yêu cầu thực tiễn. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần có một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống từ lý luận đến thực tiễn về chính sách quản lý VNN trong các doanh nghiệp sau CPH, từ đó đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm bảo toàn, phát triển VNN và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Trần Xuân Long với đề tài "Hoàn thiện chính sách quản lý vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa" (chuyên ngành Quản lý kinh tế / Kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân, Đại học Kinh tế Quốc dân, 2012) tập trung giải quyết các mục tiêu và phạm vi cụ thể sau:
-
Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH tại Việt Nam từ năm 1992 đến thời điểm nghiên cứu; chỉ rõ các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những vướng mắc.
- Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
-
Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và quá trình triển khai thực hiện chính sách của Nhà nước về quản lý VNN trong các công ty cổ phần được thành lập từ việc chuyển đổi sở hữu DNNN; đi sâu phân tích quyền, nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu VNN cũng như quyền, nghĩa vụ của người đại diện phần VNN trong doanh nghiệp sau CPH.
-
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Chính sách quản lý VNN trong các doanh nghiệp sau CPH trên phạm vi cả nước.
- Về thời gian: Phân tích thực trạng triển khai chính sách từ năm 1992 (bắt đầu thí điểm CPH) đến năm 2010/2011 và đề xuất các giải pháp cho những năm tiếp theo.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu của luận án điểm lại hệ thống công trình trong nước và quốc tế theo ba nhóm nội dung trọng tâm:
-
Nhóm nghiên cứu về CPH và tiến trình CPH DNNN tại Việt Nam:
- Giai đoạn khởi đầu (thập niên 1990): Hoàng Công Thi và Phùng Thị Đoan (1992) với "CPH DNNN ở Việt Nam"; Ủy ban Vật giá Nhà nước (1993) với "Những vấn đề lý luận và thực tiễn của CPH khu vực kinh tế quốc doanh"; Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (1993) với "Cơ sở khoa học của việc chuyển đổi một số DNNN thành công ty cổ phần ở Việt Nam"; Nguyễn Ngọc Quang (1996) với "CPH DN nhà nước cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn"; Hoàng Đức Tảo (1993) với "CPH DN nhà nước: kinh nghiệm thế giới". Các nghiên cứu này tập trung đặt nền móng lý luận và tham khảo bài học quốc tế để áp dụng vào Việt Nam.
- Giai đoạn thúc đẩy CPH theo ngành, địa phương và Tổng công ty: Nguyễn Mậu Quyết (2001) nghiên cứu CPH tại Hà Nội; Hoàng Kim Huyền (2003) nghiên cứu ngành công nghiệp; Nguyễn Thị Ngọc Lan (2005) và Trần Nam Hải (2006) nghiên cứu ngành Bưu chính Viễn thông; Vũ Đình Hiếu (2003) nghiên cứu Tổng công ty Cơ điện nông nghiệp và thủy lợi; Hoàng Thị Minh (2006) nghiên cứu Tổng công ty Lương thực miền Bắc; Bùi Quốc Anh (2008) nghiên cứu CPH và hậu CPH trong ngành giao thông vận tải; Trần Tiến Cường (2010) khảo sát các vấn đề phát sinh của doanh nghiệp sau CPH đa dạng sở hữu; Lê Hoàng Hải (2001) phân tích vướng mắc tài chính sau CPH.
- Nhóm giải pháp tài chính - tín dụng thúc đẩy CPH: Vũ Ngọc Khuê (1999), Đặng Thị Bích Thuận (2002), Phạm Đình Toàn (2005), Đặng Thanh Vân (2004), Nguyễn Ngọc Hiếu (2004), Nguyễn Quốc Dũng (2004), Nguyễn Văn Thắng (2006), Trịnh Thị Kim Ngân (1999), Nguyễn Tiến Đạt (2004 - Vinaconex), Bùi Minh Thuận (2004 - Tổng công ty Xăng dầu), Văn Thị Nguyệt (2005 - Tổng công ty Dầu khí), Nguyễn Thành Trung (2006 - Bộ Quốc phòng), Tạ Quang Trung (2008 - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Nguyễn Thị Dung (2007 - VNPT), Mai Công Quyền (2007).
-
Nhóm nghiên cứu về vấn đề vốn, quản lý vốn và chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH:
- Lê Chi Mai (1993) với "Vấn đề vốn trong CPH DN nhà nước" phân tích khủng hoảng vốn trong kinh tế quốc doanh, định giá doanh nghiệp và quyền sở hữu vốn.
- Nguyễn Việt Tiến (2003) nghiên cứu quản lý doanh nghiệp sau CPH tại Hà Nội.
- Scott Cheshier và cộng sự (2006) với "Nhà nước với tư cách là nhà đầu tư: CPH, tư nhân hóa và chuyển đổi DNNN tại Việt Nam", nhấn mạnh việc chuyển từ quản lý trực tiếp tài sản sang quản lý đầu tư vốn, kiểm soát thua lỗ và thất thoát VNN.
- Nguyễn Mạnh Thắng (2008) xây dựng khung lý thuyết quản lý VNN tại công ty quy mô vừa và nhỏ (nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu), đề xuất cơ chế phối hợp giữa SCIC và doanh nghiệp.
- Lê Đăng Doanh (2009) chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa "trái tim sở hữu" và "trái tim quản lý" mang tính hành chính tại Việt Nam.
- Phan Hoài Hiệp (2008) hệ thống hóa chính sách đầu tư và phương thức quản lý VNN vào doanh nghiệp.
- Trần Xuân Long (2009) trong hai bài báo khoa học đã chỉ ra 5 vướng mắc lớn về người đại diện, phân phối lợi nhuận, cho vay nội bộ trong tập đoàn/tổng công ty, đầu tư đan xen và cạnh tranh nội bộ.
- Trần Văn Hiền (2008) và Trần Đức Chính (2001) tập trung vào cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính và xử lý vi phạm trong quản lý VNN.
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình nêu trên phần lớn tiếp cận CPH ở góc độ thúc đẩy tiến độ, xử lý khó khăn tài chính trước CPH, hoặc chỉ nghiên cứu quản lý vốn trong phạm vi hẹp ở một địa phương, một ngành hay một doanh nghiệp cụ thể. Chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống, bao quát toàn cảnh cấu trúc 4 nội dung cốt lõi của chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH (đại diện chủ sở hữu, người đại diện phần vốn, quản lý - đầu tư vốn, phân phối và sử dụng cổ tức) trên bình diện quốc gia. Luận án lựa chọn lấp đầy khoảng trống này nhằm cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý VNN trong bối cảnh tái cơ cấu DNNN.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ thống khái niệm nền tảng: Công ty cổ phần (CTCP), cổ phần, cổ đông (phổ thông và ưu đãi), cổ phiếu (mệnh giá, thị giá, giá trị ghi sổ), cổ tức, vốn điều lệ, vốn pháp định theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006).
- Khái niệm VNN trong doanh nghiệp sau CPH: Được xác định theo Nghị định số 73/2000/NĐ-CP gồm: (1) Phần VNN từ DNNN chuyển sang CTCP; (2) Giá trị cổ phiếu nhà nước cấp cho người lao động để hưởng cổ tức trước thời điểm Nghị định 44/1998/NĐ-CP; (3) Lợi tức được chia từ phần VNN được để lại tái đầu tư tại doanh nghiệp.
- Khung chính sách 4 trụ cột quản lý VNN:
- Chính sách về đại diện chủ sở hữu VNN trong doanh nghiệp sau CPH.
- Chính sách về người đại diện phần VNN trong doanh nghiệp sau CPH (tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ đãi ngộ và trách nhiệm).
- Chính sách quản lý và đầu tư VNN (thẩm quyền quyết định tăng, giảm vốn, dự án đầu tư và xử lý vốn thu hồi).
- Chính sách phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức phần VNN.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chung: Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp khảo sát, tổng kết thực tiễn để nhận diện các mâu thuẫn, tồn tại trong việc thực thi chính sách.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đánh giá các công trình lý luận trong và ngoài nước, tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế; tổng hợp số liệu thực tế qua các giai đoạn CPH.
- Phương pháp phân tích, đánh giá văn bản chính sách: Áp dụng phương pháp đặc thù của khoa học chính sách để rà soát hệ thống văn bản pháp quy từ các Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX), Luật Doanh nghiệp 2005, các Nghị định số 64/2002/NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP, 109/2007/NĐ-CP, 73/2000/NĐ-CP, 09/2009/NĐ-CP.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu chính thức phát hành từ Chính phủ, Bộ Tài chính, Cục Tài chính Doanh nghiệp, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), ban chỉ đạo CPH các Bộ, ngành, địa phương và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp sau CPH.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam
Chương I tập trung làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của mô hình công ty cổ phần, quá trình CPH DNNN và cấu trúc nội dung của chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH:
-
Bản chất của CPH DNNN: CPH là phương thức xã hội hóa sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp một chủ sở hữu nhà nước sang hình thức nhiều chủ sở hữu theo Luật Doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ và quản trị. Nghị định số 109/2007/NĐ-CP quy định 3 hình thức CPH:
- Giữ nguyên VNN hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
- Bán một phần VNN hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần VNN vừa phát hành thêm cổ phiếu.
- Bán toàn bộ phần VNN hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ VNN vừa phát hành thêm cổ phiếu.
-
Nội dung chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH:
- Về đại diện chủ sở hữu: Chính phủ thống nhất quản lý; Thủ tướng phân cấp, ủy quyền cho các Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh, Bộ Tài chính, HĐQT các tập đoàn/tổng công ty nhà nước, Chủ tịch công ty TNHH 1 thành viên và SCIC.
- Về người đại diện VNN: Quy định tiêu chuẩn (công dân Việt Nam, phẩm chất đạo đức, chuyên môn tài chính/quản lý, không có quan hệ thân tộc với lãnh đạo doanh nghiệp góp vốn); quy định rõ nghĩa vụ tham gia ứng cử vào bộ máy điều hành (HĐQT, Ban Giám đốc), biểu quyết theo chỉ đạo của chủ sở hữu, giám sát tài chính và thu hồi VNN, nộp thù lao/quyền mua cổ phiếu về cho chủ sở hữu theo quy định.
- Về đầu tư và thu hồi vốn: Quy định thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, chuyển nhượng quyền mua cổ phần, thu hồi vốn về tài khoản của chủ sở hữu hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp.
-
Kinh nghiệm quốc tế về quản lý VNN:
- Singapore: Mô hình công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước Temasek Holdings hoạt động theo cơ chế thị trường thuần túy, tách biệt hoàn toàn quyền sở hữu nhà nước với quyền điều hành doanh nghiệp.
- Trung Quốc: Thành lập Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước (SASAC) chuyên trách thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu VNN tập trung.
- Hungary: Kinh nghiệm giám sát, minh bạch hóa dòng vốn nhà nước trong quá trình tư nhân hóa và đa dạng hóa sở hữu.
Chương II: Tình hình thực hiện chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa từ năm 1992 đến nay ở Việt Nam
Chương II phân tích toàn diện tiến trình CPH từ năm 1992 đến 2010/2011 và đánh giá thực trạng triển khai chính sách quản lý VNN qua 4 nội dung cơ bản:
- Quá trình CPH và quy mô chuyển đổi: Quá trình CPH chia làm hai giai đoạn rõ rệt: (1) Giai đoạn thí điểm (1992–1998) với tốc độ chậm, chủ yếu thăm dò; (2) Giai đoạn đẩy mạnh (1998 đến thời điểm nghiên cứu) với sự ra đời của các Nghị định 44/1998/NĐ-CP, 64/2002/NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP và 109/2007/NĐ-CP.
| Phân loại doanh nghiệp sắp xếp | Số lượng (Doanh nghiệp) | Tỷ trọng (%) |
|---|---|---|
| Tổng số DN sắp xếp, chuyển đổi (đến 25/5/2011) | 5.850 | 100% |
| - Doanh nghiệp thực hiện Cổ phần hóa | 3.948 | 67% |
| - Hình thức khác (TNHH 1TV, sáp nhập, hợp nhất, bán, khoán) | 1.902 | 33% |
| Cơ cấu 3.948 Doanh nghiệp Cổ phần hóa theo cấp quản lý | ||
| - Thuộc các địa phương quản lý | 2.294 | 58% |
| - Thuộc các Bộ, ngành quản lý | 1.197 | 30% |
| - Thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty quản lý | 457 | 12% |
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách quản lý VNN:
- Về đại diện chủ sở hữu: Mô hình đại diện chủ sở hữu còn phân tán qua nhiều đầu mối hành chính (Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh). Việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu VNN tại các doanh nghiệp độc lập sau CPH về SCIC diễn ra chậm, gặp sự trì hoãn từ nhiều Bộ và địa phương.
- Về người đại diện VNN: Năng lực chuyên môn của một bộ phận người đại diện chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị kinh doanh hiện đại trong công ty cổ phần; cơ chế cử, bổ nhiệm còn mang tính hành chính; chính sách tiền lương, thù lao, phụ cấp trách nhiệm chưa thỏa đáng dẫn đến thiếu động lực gắn liền lợi ích cá nhân với kết quả bảo toàn VNN; thiếu chế tài xử lý nghiêm khi để xảy ra thua lỗ.
- Về quản lý, đầu tư VNN: Cơ chế phân cấp đầu tư còn nhiều vướng mắc; HĐQT và Ban điều hành SCIC chưa được phân cấp đầy đủ thẩm quyền chủ động trong việc mua, bán, tái cơ cấu danh mục vốn đầu tư.
- Về phân phối và nộp cổ tức: Tình trạng doanh nghiệp sau CPH cố tình giữ lại, chậm nộp hoặc không nộp đầy đủ tiền thu từ CPH, tiền bán bớt phần VNN và lợi tức được chia về Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp theo quy định.
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam
Chương III xây dựng định hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý VNN tại Việt Nam:
-
Phương hướng hoàn thiện: Quán triệt đường lối của Đảng về tái cấu trúc DNNN; tách bạch chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn; chuyển đổi căn bản phương thức quản lý vốn từ can thiệp hành chính sang quản trị đầu tư vốn theo nguyên tắc thị trường.
-
Hệ thống giải pháp chủ yếu:
- Đổi mới quy chế người đại diện: Đề xuất Chính phủ sớm ban hành Nghị định về Quy chế người đại diện VNN trong doanh nghiệp sau CPH; quy định rõ tiêu chuẩn năng lực, quy trình tuyển chọn/bổ nhiệm cạnh tranh, cơ chế ủy quyền biểu quyết minh bạch; đồng thời chuẩn bị hồ sơ trình Quốc hội ban hành Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động kinh doanh.
- Đổi mới mô hình tổ chức quản lý VNN: Luận án đưa ra hai phương án lựa chọn:
- Phương án 1: Thành lập một cơ quan nhà nước chuyên trách (Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp) trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ Tài chính để thống nhất đầu mối đại diện chủ sở hữu.
- Phương án 2: Phát triển mô hình kinh doanh vốn chuyên nghiệp thông qua SCIC; nâng cao vai trò, năng lực tài chính và mở rộng phân cấp thẩm quyền cho SCIC trong hoạt động đầu tư, thoái vốn tại các doanh nghiệp sau CPH.
- Thành lập Quỹ đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp: Thiết lập quỹ chuyên trách nhằm quản lý tập trung các nguồn thu từ CPH, thoái vốn nhà nước và cổ tức thu được để tái đầu tư vào các ngành then chốt, huyết mạch của nền kinh tế.
- Hoàn thiện cơ chế phân phối cổ tức và tài chính: Chuẩn hóa quy chế thu nộp cổ tức, có chế tài xử phạt kinh tế và hành chính nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp chậm nộp phần vốn và cổ tức nhà nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ khung nội dung chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH bao gồm 4 cấu phần gắn kết hữu cơ: (1) Đại diện chủ sở hữu VNN; (2) Người đại diện phần VNN; (3) Quản lý, đầu tư VNN; (4) Phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức phần VNN.
- Luận giải cơ sở khoa học về việc phân tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các Bộ, ngành, địa phương khỏi chức năng kinh doanh và đại diện chủ sở hữu tài sản vốn tại các công ty cổ phần.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp ứng dụng
- Luận án cung cấp bức tranh dữ liệu tổng thể về quy mô 5.850 doanh nghiệp được sắp xếp và 3.948 doanh nghiệp CPH tại Việt Nam đến tháng 5/2011; chỉ rõ 4 nhóm tồn tại cơ bản:
- Tình trạng phân tán quyền đại diện chủ sở hữu và sự chậm trễ chuyển giao về SCIC.
- Bất cập về năng lực, cơ chế phân quyền, đãi ngộ và trách nhiệm của đội ngũ người đại diện.
- Cơ chế phân cấp đầu tư vốn chưa đầy đủ cho các định chế chuyên trách (SCIC).
- Tình trạng chiếm dụng và chậm nộp tiền thoái vốn, cổ tức nhà nước tại các doanh nghiệp CPH.
- Đề xuất mô hình tổ chức đại diện chủ sở hữu chuyên trách theo hai hướng lựa chọn (thành lập Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc nâng tầm hoạt động của SCIC).
- Đề xuất lộ trình thể chế: Trước mắt ban hành Nghị định về Quy chế người đại diện VNN, thành lập Quỹ đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, và hướng tới trình Quốc hội ban hành Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động kinh doanh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung đánh giá chính sách dựa trên dữ liệu thứ cấp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2011; việc tiếp cận các số liệu tài chính chi tiết, chuyên sâu tại một số Tổng công ty và doanh nghiệp sau CPH chưa thực sự đồng đều do tính chất bảo mật thông tin tài chính doanh nghiệp thời kỳ đó.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá định lượng hiệu quả bảo toàn vốn của từng danh mục đầu tư cụ thể khi mô hình SCIC và các quy chế mới về người đại diện được triển khai toàn diện; nghiên cứu cơ chế kiểm toán độc lập và giám sát rủi ro tài chính của VNN trong các tập đoàn kinh tế sau khi hoàn thành tái cơ cấu sở hữu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Bộ Tài chính, Cục Tài chính Doanh nghiệp, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp trong việc soạn thảo các nghị định về quản lý vốn nhà nước, quy chế người đại diện và xây dựng Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
- Cơ quan quản lý và kinh doanh vốn (SCIC, các Bộ, UBND cấp tỉnh): Tham khảo các giải pháp hoàn thiện quy trình chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu, quy chế đánh giá và trả thù lao cho người đại diện phần vốn.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung lý thuyết, tư liệu tổng quan nghiên cứu và phương pháp tiếp cận đánh giá chính sách kinh tế trong các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Tài chính doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm Vốn Nhà nước (VNN) trong doanh nghiệp sau CPH được pháp luật quy định gồm những thành phần nào?
Trả lời: Theo Nghị định số 73/2000/NĐ-CP được luận án viện dẫn, VNN trong doanh nghiệp sau CPH bao gồm 3 khoản mục: (1) Phần VNN từ DNNN chuyển sang CTCP; (2) Giá trị cổ phiếu nhà nước cấp cho người lao động để hưởng cổ tức khi CPH ở giai đoạn trước khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP có hiệu lực; (3) Lợi tức được chia từ việc Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp sau CPH được giữ lại để tái đầu tư. -
Đến thời điểm tháng 5/2011, tỷ lệ CPH DNNN tại Việt Nam đạt kết quả như thế nào theo số liệu của Bộ Tài chính?
Trả lời: Tính đến 25/5/2011, cả nước có 5.850 DN và bộ phận DN được sắp xếp, chuyển đổi. Trong đó, CPH đạt 3.948 DN (chiếm 67%). Trong số 3.948 DN CPH, khối địa phương quản lý chiếm 58% (2.294 DN), khối Bộ, ngành chiếm 30% (1.197 DN) và các tập đoàn, tổng công ty chiếm 12% (457 DN). -
Luận án chỉ ra những tồn tại lớn nhất đối với người đại diện phần VNN tại doanh nghiệp sau CPH là gì?
Trả lời: Luận án chỉ ra các hạn chế: Năng lực chuyên môn quản trị của một số người đại diện chưa đáp ứng yêu cầu; cơ chế bổ nhiệm còn mang tính hành chính; thiếu quy định rõ ràng phân định quyền sở hữu và quyền điều hành; chính sách đãi ngộ, tiền lương và phụ cấp chưa tương xứng với trách nhiệm; thiếu tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chế tài xử lý trách nhiệm khi xảy ra thua lỗ. -
Tác giả đề xuất những mô hình tổ chức nào để quản lý VNN tại các doanh nghiệp sau CPH?
Trả lời: Luận án đề xuất xem xét hai mô hình: (1) Mô hình cơ quan hành chính nhà nước chuyên trách: thành lập Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (2) Mô hình tổ chức kinh doanh vốn chuyên nghiệp: củng cố, mở rộng thẩm quyền và nâng cao năng lực cho SCIC.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Xuân Long là công trình nghiên cứu hệ thống về chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH tại Việt Nam trong giai đoạn 1992–2011. Bằng việc phân tích sâu sắc cấu trúc 4 nội dung chính sách và đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn CPH trên phạm vi cả nước, tác giả đã chỉ rõ các nút thắt thể chế dẫn đến hạn chế trong bảo toàn VNN. Hệ thống giải pháp đề xuất về đổi mới quy chế người đại diện, hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý chuyên trách và thành lập Quỹ đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp mang giá trị ứng dụng thiết thực cho tiến trình tái cơ cấu kinh tế nhà nước tại Việt Nam.