Chương 1: Một số lý luận, thực tiễn về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước 1. Quan niệm và các tiêu chí xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường 1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của.
doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 1. Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củ: doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường XHCN Chương 2: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ đối mới 2. Khái quát doanh nghiệp nhà nước qua 20 năm đổi mới 4 2. Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước ở các ngành kinh tế trong những năm qua 2.
Đánh giá chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước : Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 3. Những quan điểm cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 3. Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Các giả: pháp tầm vĩ mô.
Các giải pháp tầm vi mô. Š- Phương pháp nghiên cứu. Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước để luận giải các vấn đề nghiên cứu. Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh; phương pháp chuyên gia và tổng kết thực tiễn để trình bày các vấn đề nghiên cứu.
Đồng thời đề tài có kế thừa những kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học để làm phong phú và đầy đủ hơn các nội dung nghiên cứu của đề tài. Chương ] MOT SO LÝ LUẬN, THỰC TIẾN VE NANG CAO HIEU QUA SAN XUAT KINH DOANH CUA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Nang cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là điều mong muốn và mối quan tâm của bất kỳ nền sản xuất nào, bất kỳ doanh nghiệp nào. Tuy nhiên, nội hàm của hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng có thể được hiểu ở những cấp độ, phạm vi khác nhau. Chẳng hạn, khi nói đến hiệu quả sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa người ta thường gắn nó với sự tối đa hóa lợi nhuận của các nhà tư bản đầu tư.
Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hiệu quả sản xuất kinh đoanh có thể được hiểu đó là sự gắn kết giữa lợi ích của người sản xuất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Để hiểu đúng bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nói chung và trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN nói riêng chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu một số lý luận và thực tiễn của việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. QUAN NIỆM VÀ CÁC TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH HIỆU QUÁ SAN XUAT DOANH NGHIỆP CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. Để nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN, trước hết phải xác định bản chất, vai trò, vị trí của DNNN trong nên kinh tế nhiều thành phần, từ đó xác định các tiêu chí hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nó.
Bản chất, vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Sự phát triển của nên kinh tế thị trường tự do cạnh tranh trong chủ nghĩa tư bản ở thế xỷ XIX và những thập niên đầu của thế kỷ XX dẫn đến sự phát triển bất ổn. trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tình trạng mất cân đối cung cầu. và kết quả đó là bùng nổ các cuộc khủng hoảng kinh tế mà đỉnh cao là cuộc đại khủng hoảng 1929 - 1933.
Mặt khác, vào những năm 30 cia thé ky XX, luc lượng sản xuất phát triển, độc quyền ra đời và bắt đầu bành trướng thế lực. trước tình hình đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước bằng các biện pháp quản lý vĩ mô, cùng với nó chính sách quốc hữu hóa được thực hiện, nhiều DNNN ra đời. Tuy nhiên, đến những năm 70 ở các nước phương Tây kinh tế trì trệ, do đó trào lưu tư tưởng chủ nghĩa tự do mới nảy sinh và dẫn tới phong trào tư nhân hóa DNNN, nhưng ở Nhật Bản, Tay Âu, Bắc Mỹ thì DNNN và kinh tế nhà nước vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể. đó cho thấy sự tồn tại DNNN là sản phẩm tất nhiên của sự phát triển xã hội hóa sản xuất.
Đối với các DNNN (xí nghiệp quốc doanh) ở các nước XHCN ra đời trên cơ sở quá trình cải tạo XHCN đã quốc hữu hóa các cơ sở kinh tế của xã hội cũ và Nhà nước tạo dựng một hệ thống kinh tế và cơ sở kinh tế của xã hội mới (XHCN) trong đó có DNNN. Như vậy, việc xây dựng và phát triển DNNN là đòi hỏi bức xúc của mọi nên kinh tế. Tuy nhiên, quan niệm, vai trò, phương thức tổ chức hoạt động của DNNN ở các nước khác nhau sẽ có sự khác nhau. Chẳng hạn, ở Nhật người ta quar.
niệm: DNNN là những doanh nghiệp hoạt động theo quy chế của Nhà nước. Ở Mỹ thì người ta lại quan nệm DNNN là doanh nghiệp ở đó Nhà nước giữ quyền kiểm soát. Ở nước ta từ khi thực hiện quá trình đổi mới nên kinh tế đất nước quan niệm về DNNN cũng đã có sự thay đổi. Trong Luật ENNN năm 1995 được định nghĩa như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh sản xuất do Nhà nước giao”.
Luật DNNN năm 2003: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần vốn góp chỉ phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Và theo Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 ngày 29/11/2005 thông qua lại định nghĩa: “DNNN là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Như vậy, quan niệm về DNNN đã có sự thay đổi lớn, không chỉ là những doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước mà còn có các công ty mà Nhà nước có vốn góp và cổ phần chi phối. Nó được tổ chức dưới các hình thức khác nhau: Tập đoàn kinh tế; Tổng công ty; Công ty mẹ, công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Tuy có quan niệm khác nhau cũng như ra đời khả năng của DNNN ở các nước, song nó đều bắt nguồn từ nhu cầu tự nhiên của nền kinh tế với những mục đích khác nhau như: Khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, bù đấp những thiếu hụt của khu vực tư nhân, là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế - xã hội. Có thể khái quất vai trò của DNNN trong các nền kinh tế như sau: * Vai trò kinh tế: - Ở các nước phát triển DNNN có vai trò để Chính phủ bù đắp thiếu hụt của kinh tế tư nhân, đó là khu vực mà các kinh tế tư nhân không làm được hoặc không muốn làm, không có khả năng làm hoặc lợi nhuận thấp. Hoặc DNNN như là một đối thủ ngăn ngừa sự độc quyền của khu vực tư nhân ở những lĩnh vực có ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội. Mặt khác, DNNN ra đời để kiểm soát một số ngành quan trọng của quốc gia như: công nghiệp quân sự và một số ngành công nghiệp mũi nhọn.
- Ở các nước đang phát triển DNNN tạo lập những ngành hạ tầng cơ sở và các dịch vụ công cộng - các Chính phủ ở các nước này cũng thường coi DNNN là lực lượng quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Ở Việt Nam: Quan điểm của Đảng cũng đã thể hiện rõ ở Văn kiện Đại hội lần thứ IX: “DNNN giữ những vị trí then chốt;đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội, chấp hành luật pháp”©, DNNN được cc¡ là bộ phận nòng cốt của khu vực kinh tế nhà nước, là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, là công °' Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. cụ lấp chỗ trống mà kinh tế tư nhân không làm được hoặc không muốn làm, là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế. DNNN góp phần quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế nước ta trong quá trình đổi mới, DNNN đóng góp 40% GDP, 50% ngân sách, 50% kim ngạch xuất khẩu.
Sở đi DNNN ở nước ta ở nước ta có vai trò quan trọng đó vì: do ưu thế và quy mô của DNNN, hiện nay so với các loại doanh nghiệp khác nhìn chung DNNN vẫn có ưu thế về huy động vốn, nên có thể tập trung sản xuất, với quy mô lớn hơn, có ưu thế chuyển đổi công nghệ tiên tiến và tham giả vào thị trường thế giới. Mặt khác, DNNN hiện là đối tác chính của các nhà đầu tư nước ngoài, là công cụ, là lực lượng vật chất để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. * Vai trò chính trị - xã hội. Trong nên kinh tế thị trường sự tác động của các quy luật kinh tế sẽ gây hiệu ứng đến xã hội.
Ví dụ như quy luật giá trị sẽ đào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, phát triển không tương thích với xu hướng vận động của kinh tế thị trường dẫn đến thất nghiệp tăng hoặc quy luật cạnh tranh dễ dẫn đến doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận đơn thuần, thường chỉ chú ý đến lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ, không chú ý đến lợi ích lâu dài, lợi ích xã hội, gây ô nhiễm môi trường, môi sinh, không đầu tư sản xuất kinh doanh những ngành lợi nhuận thấp (thường đó là các dịch vụ công ích.); phân hóa giàu nghèo.