phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận về tái cấu trúc doanh nghiệp nha nước. Chương 2: Thực trạng tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam. CHUONG 1: CO SO LY LUAN TAI VE CAU TRUC DOANH NGHIEP NHA NUOC 1.1 NHUNG VAN DE CHUNG VE DOANH NGHIEP NHA NUOC 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước Nói về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong thực tế có nhiều định nghĩa khác nhau về loại hình này. Theo như Ngân hàng Thế giới định nghĩa thì DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay quyền kiểm soát thuộc về chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hóa và dịch vụ (Ngân hàng Thế giới 1999).
Còn theo lý thuyết kinh tế học thị trường thì DNNN là một tổ chức được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, mà giá trị của chúng không thuộc về các sở hữu cá nhân mà thuộc về xã hội (Nguyễn Mạnh Quân 2013). Còn trong bộ hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong DNNN thì thuật ngữ “doanh nghiệp nhà nước” dùng để chỉ các doanh nghiệp mà nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hay thiểu số quan trọng (OECD 2010). Ở Việt Nam, DNNN được hiểu là các tô chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đo nhà nước giao. Các mục tiêu kinh tế xã hội đó có thể là hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích.
Thời gian đầu thành lập, vốn nhà nước thường chiếm 100% vốn điều lệ, tuy nhiên vì lý do cải cách nên phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp này có thê giảm đi tùy theo ngành nghề kinh doanh (Ngô Kim Thanh 2013). Trong phạm vi luận án này, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các DNNN thực hiện các mục tiêu kinh doanh của Chính phủ giao cho. Bao gồm doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước do trung ương và địa phương quản lý, công ty TNHH nhà nước do trung ương và địa phương quản lý, công ty có phần vốn Nhà nước chiếm giữ trên 50% vốn điều lệ.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 1.1 Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập DNNN do cơ quan nhà nước có thâm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập doanh nghiệp là cần thiết. Việc thành lập DNNN dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực quan trọng mà nhà nước cần nắm giữ để ôn định phát triển nền kinh tế.2 Tài sản của doanh nghiệp nhà nước là bộ phận của tài sản nhà nước DNNN do nhà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu nhà nước, tài sản của DNNN là một bộ phận của tải sản nhà nước (TSNN).
DNNN sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và thay mặt nhà nước thực hiện hoạt động kinh doanh.Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà nhà nước giao.3 Doanh nghiệp nhà nước thực hiện mục tiêu nhà nước giao Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước, DNNN phải thực hiện mục tiêu nhà nước giao. Đây là một điểm khác biệt so với các doanh nghiệp nói chung. Nếu nhà nước giao cho DNNN nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì DNNN đó phải kính doanh có hiệu quả, DNNN nảo được giao thực hiện hoạt động công ích thì DNNN đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. Do đó, lợi ích thu được từ các hoạt động của DNNN không được sử dụng để phục vụ lợi ích riêng của cá nhân mà phải phục vụ lợi ích chung của xã hội.
Có thê nói DNNN có thể được xem là một công cụ hay một chính sách can thiệp của chính phủ (Ngô Thắng Lợi 2004).4 Doanh nghiệp nhà nước là đối tượng quản lý trực tiếp nhà nước DNNN do nha nước đầu tư vốn thành lập nên bản thân nó thuộc sỡ hữu của nhà nước. Tất cả DNNN đều chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo sự phân cấp của chính phủ. Trên thực tẾ, quản lý DNNN thường được hiểu là hoạt động bảo đảm việc chấp hành, thực thi pháp luật của các DNNN và hoạt động điều hành để thực hiện các quyền chủ sở hữu tại các DNNN. Hoạt động quản lý theo nghĩa hẹp được thực hiện bởi các cơ quan hành chính nhà nước gồm: chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, ủy ban nhân dân.
Thực tế hiện nay, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cả 2 chức năng gồm: chức năng quản lý nhà nước về kinh tế (chức năng quản lý nhà nước) và chức năng đại điện chủ sở hữu DNNN (Trần Tiến Cường 2012).3 Phân loại doanh nghiệp nhà nước 1.1 Phân theo mục đích hoạt động Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là những DNNN hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các doanh nghiệp này sản xuất các loại hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra thị trường. Doanh nghiệp hoạt động công ích là những doanh nghiệp của Nhà nước hoạt động vì lợi ích của xã hội như môi trường, vệ sinh đô thị, đảm bảo giao thông an ninh quốc phòng (Ngô Kim Thanh 2013). Việc phân loại theo tiêu chí này giúp doanh nghiệp tập trung vào mục tiêu hoạt động chính của mình.
Nhà nước sẽ có cơ chế quản lý và chính sách phù hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp.2 Phân loại theo quy mô và hình thức doanh nghiệp DNNN độc lập là DNNN không có trong cơ cấu tô chức của doanh nghiệp khác. DNNN thành viên là DNNN nằm trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp lớn hơn.Các công ty trực thuộc hoặc thành viên của các Tổng công ty 90, 91 là điển hình cho loại hình doanh nghiệp này (Ngô Kim Thanh 2013). Tổng công ty Nhà nước là DNNN độc lập có quy mô lớn bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin đào tạo. trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính do Nhà nước thành lập nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nang cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn tông công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.3 Phân loại theo cách thức tổ chức và quản lý doanh nghiệp DNNN có hội đồng quản trị là DNNN ở đó hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý hoạt động của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm trước Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước được ủy quyền về sự phát triển của doanh nghiệp.
Trong các công ty cô phần, công ty TNHH và các tông công ty đều có hội đồng quản trị. DNNN không có hội đồng quản trị là DNNN mà ở đó chỉ có giám đốc DNNN quản lý hoạt động của doanh nghiệp theo chế độ một thủ trưởng. Mô hình này chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ như các công ty thành viên của các tổng công ty (Ngô Kim Thanh 2013).4 Phân loại theo phân cấp quản lý DNNN do chính phủ quản lý. Các doanh nghiệp này thường có quy mô lớn và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.Điển hình là các tập đoàn kinh tế Nhà nước và tông công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
DNNN do các Bộ, ngành địa phương quản lý. Các công ty TNHH một thành viên hoạt động trong các ngành lĩnh vực như nông nghiệp, giao thông vận tải hay dịch vụ sẽ thuộc loại hình này (Phạm Phú Quốc, 2015).2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ TÁI CÁU TRÚC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1Khái niệm tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước Có ba khái niệm liên quan đến tái cấu trúc : + Restructuring (tái cau trúc): là việc điều chỉnh hướng chiến lược (strategic direction) của doanh nghiệp, điều chỉnh tầm nhìn (vision), từ đó việc quản lý nguồn lực và tài chính của doanh nghiệp cũng phải thay đổi đề thích hợp. Cụ thể hơn đó là thay đổi toàn bộ mọi hoạt động của công ty, xóa bỏ những gì chưa làm được để làm lại từ đầu. + Re - engineering (tái cấu trúc quy trình): là việc tái sắp xếp lại các quy trình cốt lõi của doanh nghiệp để tăng hiệu quả, tính cạnh tranh, tối thiểu hóa chỉ phi, tăng lợi nhuận.
+ Down - sizing (tinh giản cấu trúc): một hình thức tái cấu trúc để cắt giảm chi phí, nhận diện lại những lợi thế của doanh nghiệp, thu hẹp hoặc không tiếp tục những lĩnh vực, những hoạt động không mang lại hiệu quả nhất là những hoạt động nằm ngoài chức năng hoạt động chính của doanh nghiệp. Hình thức này thích hợp trong trường hợp kinh tế suy thoái (Hoàng Tùng 2012). Tái cấu trúc doanh nghiệp là quá trình khảo sát, đánh giá lại cấu trúc hiện tại và đề xuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới nhằm tạo ra trạng thái tốt hơn cho doanh nghiệp nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra trong những điều kiện, hoàn cảnh luôn thay đổi. Việc tái cấu trúc luôn phải được xem xét một cách thường xuyên dé tránh tình trạng mắt cân bằng của hệ thống (Nguyễn Đình Luận 2013).
Nhìn ở góc độ rộng hon, tai cau trúc DNNN là quá trình tái cơ cấu được thực hiện thông qua việc sắp xếp, tổ chức lại một số công ty có tiềm lực kinh tế để hình thành một số tập đoàn kinh tế nhà nước lớn, đóng vai trò chủ đạo trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng như tập đoàn điện lực, dầu khí, than khoáng sản, bưu chính viễn thông, xây dựng và bất động sản (Huỳnh Thị Ly Na 2012). Tái cầu trúc DNNN ở Việt Nam là một quá trình mở, có nội hàm ngày càng rộng và toàn diện, bao quát sự thay đổi cả về số lượng, quy mô, phạm vi, mô hình tổ chức, mục tiêu và nguyên tắc hoạt động. Trong phạm vi luận án, tái trúc cấu trúc DNNN ở Việt nam sẽ được đánh giá theo hai nội dung. Thứ nhất, đó là đây mạnh cô phần hóa (CPH) để thu hẹp khu vực DNNN và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.