PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phát triển GTĐB là một trong những yếu tố cần thiết nhất để tiến hành thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Với xuất phát điểm thấp về giao thông nhƣ VN, phát triển GTĐB là nhiệm vụ đƣợc ƣu tiên hàng đầu. VN đang trên con đƣờng hội nhập sâu rộng với quốc tế, vì vậy, việc phát triển GTĐB lại càng cấp thiết và cấp bách.
Khi GTĐB đƣợc phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ là điều kiện, động lực thúc đẩy cho sự phát triển đất nƣớc. Trong những năm qua, GTĐB ở VN đã đầu tƣ theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, từ các công trình cấp quốc gia đến công trình cấp phƣờng, xã. Với sự đầu tƣ nhƣ vậy sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của một quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế, các công trình GTĐB chƣa đáp ứng đƣợc các điều kiện nhƣ mong muốn vì đã xẩy ra tình trạng thất thoát và lãng phí vốn khi thực hiện các dự án.
Điều này đã ảnh hƣởng rất lớn đến việc thu hút vốn đầu tƣ cho GTĐB tại VN, làm giảm niềm tin của nhà đầu tƣ. Khi chúng ta đảm bảo và nâng cao đƣợc hiệu quả đầu tƣ thì mới có thể gia tăng nguồn vốn tham gia vào GTĐB. Đầu tƣ phát triển GTĐB là một quá trình lâu dài, đòi hỏi một số lƣợng vốn lớn và các cơ chế chính sách ổn định, dài hạn. Vì vậy, để phát triển mạnh mẽ hơn nữa việc phát triển GTĐB ở VN, việc thu hút vốn đầu tƣ là vô cùng quan trọng.
Đảng và Nhà nƣớc đã có chủ trƣơng về vấn đề tiến hành xã hội hóa trong lĩnh vực GTVT, khi phát triển GTĐB đƣợc nhiều thành phần kinh tế tham gia dƣới các hình thức tổ chức sẽ là cơ sở để thu hút vốn hiệu quả nhất, thúc đẩy mạnh mẽ nhất phát triển GTĐB tại VN. Để việc thu hút vốn cho GTĐB hiệu quả hơn nữa rất cần có các giải pháp phù hợp với các điều kiện thực tiễn ở VN nhƣ nhà đầu tƣ, cơ chế chính sách, hình thức đầu tƣ vv… Bài toán đặt ra là làm thế nào để thu hút vốn đầu tƣ đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nƣớc trong khi nguồn vốn có hạn. Khi chúng ta tìm ra đƣợc những giải pháp phù hợp, chứng minh đƣợc tính hiệu quả của các công trình GTĐB ở nhiều mặt khác nhau thì mới có thể thu hút vốn đầu tƣ tốt nhất cho các công trình GTĐB. Việc thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB đòi hỏi việc quản lý nhà nƣớc phải có tính hệ thống và khoa học.
Khi xác định đƣợc những giải pháp cơ bản, then chốt thì việc quản lý nhà nƣớc về thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB mới đạt hiệu quả cao. Với những lý do trên, việc nghiên cứu từ thực trạng và đƣa ra các giải pháp một cách khoa học sẽ giúp cho việc thu hút vốn phát triển GTĐB VN một cách hiệu quả, 2 nên tác giả thực hiện đề tài: Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển giao thông đường bộ VN là cần thiết và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn cho việc phát triển GTĐB, đồng thời sẽ là những đóng góp mới cho lĩnh vực khoa học quản lý xây dựng. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn việc thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB VN trong những năm qua và nhu cầu vốn đầu tƣ phát triển GTĐB trong những năm tới, luận án tập trung nghiên cứu đƣa ra hệ thống các giải pháp khoa học cho việc quản lý nhà nƣớc về giao thông đƣờng bộ (Chính phủ, Bộ Giao thông – Vận tải) nhằm thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển GTĐB VN trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nƣớc. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB VN trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về đầu tƣ và thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB VN khoảng 15 năm trở lại đây (từ năm 2001 – 2016) và định hƣớng cho việc thu hút vốn đầu tƣ cho các năm tiếp theo. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa về khoa học của đề tài thể hiện ở việc hệ thống hóa lý luận về thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB và đánh giá một cách khoa học về thực trạng việc thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB VN trong những năm qua. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để đề tài đề xuất các giải pháp thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB VN, khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện ở việc đánh giá khách quan thực trạng thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB VN, tìm ra các yếu tố ảnh hƣởng, yếu tố cản trở thu hút và tổng hợp đƣợc những ý kiến đề xuất về các giải pháp thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển GTĐB phù hợp với điều kiện của VN.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luôn tập trung ở việc nghiên cứu, tìm ra các giải pháp có tính khả thi thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển GTĐB. Từ việc xây dựng các giải pháp, các cấp quản lý có thể vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tiễn của VN để thu hút có hiệu quả vốn đầu tƣ phát triển GTĐB VN, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nƣớc. 3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Nghiên cứu về thu hút vốn đầu tƣ phát triển GTĐB ở nƣớc ngoài Các vấn đề về chính sách thu hút vốn Để thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển GTĐB, nhiều quốc gia trên thế giới đã đƣa ra những chính sách hợp lý, kịp thời và hiệu quả, đặc biệt các quốc gia đã đƣa ra và vận dụng hiệu quả chính sách hợp tác công tƣ, giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia và khích lệ đƣợc sự tham gia của cộng đồng, tạo nên sức mạnh cộng đồng nhƣ: Ba Lan đã ban hành Luật số 17 năm 2005 về liên danh Công - Tƣ.
Luật số 17 đã trở thành kim chỉ nam cho hoạt động phát triển CSHT bằng hình thức liên kết giữa Nhà nƣớc và khu vực tƣ, từ đó bài toán thiếu vốn cho phát triển CSHT giao thông nói chung và phát triển hệ thống đƣờng cao tốc nói riêng của Ba Lan, đã đƣợc khắc phục, nâng cấp, kiến tạo và phát triển[43]. Nhật Bản đã sử dụng chính sách giá, chính sách thuế hoặc trợ cấp để khuyến khích sự tham gia đầu tƣ vào đƣờng bộ từ các tổ chức và cá nhân. Ngƣời nhật đã lập công ty nhà nƣớc về đầu tƣ và quản lý đƣờng bộ, áp dụng cơ chế thu hồi vốn đất kinh doanh để phát triển mạng lƣới đƣờng cao tốc. Riêng năm 2005, kết quả của việc áp dụng thuế xăng dầu, chính phủ Nhật đã thu hồi đƣợc trên 3000 tỉ Yên để tái đầu tƣ, nâng cấp GTĐB [43].
Nƣớc Anh đi đầu trong việc huy động vốn tƣ nhân với ý tƣởng Tài chính Tƣ nhân (Private Finance Initiative - PFI) trong các nƣớc châu Âu. PFI là một hình thức hợp tác công - tƣ, nhƣng hình thức này khác tƣ nhân hóa ở chỗ: Chính phủ vẫn nắm vai trò quan trọng, là bên mua các dịch vụ hoặc ra quyết định cho phép triển khai dự án. Theo đó, các công ty đầu tƣ tƣ nhân sẽ thiết kế, xây dựng tài chính và vận hành CSHT dựa trên các đặc điểm kỹ thuật, thiết kế chung do nhà nƣớc quy định. Nhà nƣớc sẽ trả tiền để sử dụng CSHT trong thời gian đƣợc thỏa thuận trong hợp đồng.
Hết thời hạn, quyền sở hữu tài sản có thể tiếp tục thuộc về phía tƣ nhân hoặc đƣợc chuyển nhƣợng cho nhà nƣớc tùy thuộc vào điều khoản trong hợp đồng. Ấn Độ - nƣớc có hệ thống đƣờng bộ lớn thứ hai thế giới (khoảng 3,34 triệu km). Để thu hút đầu tƣ tƣ nhân, ngoài việc áp dụng các hình thức đầu tƣ hấp dẫn nhƣ BOT, PPP,. chính phủ Ấn Độ có kế hoạch sử dụng nguồn vốn 200 tỉ rupees để thành lập Quỹ Hạ tầng và Đầu tƣ Quốc gia (NIIF) để thu hút vốn các tổ chức trên thế giới.
Chính phủ và các tổ chức nhà nƣớc nắm giữ 49% cổ phần công ty, phần còn lại thu hút từ các ngân hàng phát triển đa phƣơng, các quỹ đầu tƣ quốc gia, quỹ lƣơng cùng các tổ 4 chức khác. Ngoài tài trợ, quỹ NIIF cũng có thể đầu tƣ trực tiếp vào các dự án. Trung Quốc đã thay đổi chính sách cho phép các nhà đầu tƣ tƣ nhân tham gia vào các dự án đầu tƣ hạ tầng theo mô hình BOT cũng nhƣ huy động vốn thông qua cổ phần tƣ nhân, đầu tƣ chiến lƣợc, trái phiếu. Chính phủ khuyến khích các ngân hàng cho vay vốn đối với các dự án nhƣợng quyền cũng nhƣ cho phép các ngân hàng chính sách của Trung Quốc hỗ trợ tín dụng với các khoản nợ thời hạn lên tới 30 năm.
Đổi lại, chính phủ cam kết đảm bảo “bảo vệ lợi ích pháp lý của nguồn vốn xã hội, bảo đảm sự ổn định và liên tục của các hoạt động chuyển nhƣợng”. Trung quốc trƣớc đây, là nƣớc phát triển đƣờng cao tốc chậm, nhƣng hiện nay đã phát triển mạnh (đạt đến 80.000km) chỉ đứng sau Mĩ. Có đƣợc thành tựu này là Trung Quốc đã học các nƣớc phát triển huy động mọi nguồn lực trong và ngoài ngân sách cho xây dựng đƣờng cao tốc [43]. Một số nghiên cứu về thu hút vốn Các nghiên cứu về hình thức hợp tác công tƣ (PPP) trong phát triển GTĐB đã đƣợc các tác giả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn.
Yescombe (2007) [85] đã nghiên cứu làm rõ các khái niệm đầu tƣ ngoài khu vực Nhà nƣớc, nhƣ khái niệm PPP, đặc điểm của PPP; Các yếu tố tác động đến sự phát triển của PPP, các chức năng của Nhà nƣớc đối với sự phát triển của PPP; Những hành động mà khu vực tƣ nhân cần thực hiện nhằm nâng cao giá trị đồng tiền đầu tƣ khi tham gia hợp tác công tƣ.Yescombe đã chỉ ra trong hình thức hợp tác công – tƣ: Về phía Nhà nƣớc có vai trò quyết định sự phát triển của PPP, Nhà nƣớc tạo môi trƣờng nhƣ chính sách, khung pháp lý, đồng thời Nhà nƣớc thống nhất các quy định pháp luật, thủ tục đấu thầu, tạo nguồn vốn và các công cụ tài chính, làm trọng tài khi cần giải quyết các tranh chấp.