Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Giải pháp thu hút khách du lịch nội địa đến với khu du lịch Tràng An (Ninh Bình)" do sinh viên Vũ Thị Trung Thu thực hiện tại Khoa Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Dương Văn Sáu. Đề tài được triển khai trong bối cảnh du lịch Việt Nam đang chuyển mình trở thành một ngành kinh tế quan trọng, và tỉnh Ninh Bình xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên, di tích văn hóa - lịch sử phong phú như Cố đô Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, suối nước nóng Kênh Gà - động Vân Trình.

Trong hệ thống các điểm đến của tỉnh, Khu du lịch Tràng An được Doanh nghiệp Xây dựng Xuân Trường đầu tư xây dựng từ năm 2004 và hoàn thành giai đoạn 1 vào năm 2008. Mặc dù bước đầu thu hút sự quan tâm của du khách và các nhà đầu tư, việc khai thác thực tế tại Tràng An ở thời điểm nghiên cứu vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, danh mục sản phẩm du lịch chưa đa dạng, các loại hình dịch vụ bổ trợ còn nghèo nàn, dẫn đến khả năng giữ chân và thúc đẩy mức độ chi tiêu của khách du lịch nội địa chưa cao.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động marketing nhằm thu hút khách du lịch đến với các khu, điểm du lịch.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và khả năng thu hút khách du lịch tại Khu du lịch Tràng An.
  3. Đề xuất một số giải pháp marketing nhằm nâng cao hiệu quả thu hút khách du lịch nội địa đến với Khu du lịch Tràng An trong giai đoạn tiếp theo.

Về phạm vi nghiên cứu, tác giả giới hạn đề tài dưới góc độ tiếp cận chuyên môn của môn học Marketing du lịch. Về không gian, khóa luận tập trung nghiên cứu hai khu vực trọng điểm mang tính đại diện và có lưu lượng khách lớn nhất là Khu du lịch tâm linh núi chùa Bái Đính và quần thể hang động Tràng An, nằm trong tổng thể quy hoạch trải dài trên địa bàn các huyện Hoa Lư, Gia Viễn và thành phố Ninh Bình. Về thời gian, các dữ liệu về thực trạng kinh doanh và tình hình đón tiếp du khách được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2008 - 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành du lịch học và quản trị tiếp thị:

  • Khái niệm về du lịch và điểm đến du lịch: Phân tích du lịch dưới nhiều góc độ tiếp cận (nhu cầu cá nhân, hiện tượng xã hội, định nghĩa của Mill và Morrison, khái niệm ngành kinh tế theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Du lịch năm 1963 tại Rome và năm 1971). Định nghĩa điểm đến du lịch (Tourism destination) gắn với các thành tố cấu thành cốt lõi gồm tài nguyên hấp dẫn, giao thông tiếp cận, dịch vụ lưu trú, tiện nghi hỗ trợ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
  • Cơ sở pháp lý: Trích dẫn Điều 10 Pháp lệnh Du lịch Việt Nam về hoạt động kinh doanh du lịch và Điều 34 Chương 5 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 nhằm chuẩn hóa khái niệm khách du lịch nội địa (KDLNĐ) và phân định ranh giới hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa với lữ hành quốc tế.
  • Lý thuyết hành vi người tiêu dùng: Hệ thống hóa 4 nhóm nhân tố tác động đến quyết định mua sản phẩm du lịch gồm văn hóa (nền văn hóa, nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội), xã hội (gia đình, 3 nhóm tham khảo), cá nhân (tuổi tác, chu kỳ đời sống, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, lối sống, cá tính theo Philip Kotler) và tâm lý (động cơ, nhận thức/tri giác, sự hiểu biết, niềm tin). Quá trình ra quyết định mua được mô hình hóa qua 5 giai đoạn: xác lập nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá giá trị và giá cả, quyết định mua, và hành vi sau khi sử dụng sản phẩm.
  • Khung lý thuyết Marketing du lịch: Vận dụng định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Alastair M. Morrison về bản chất tiếp thị liên tục, cùng 8 đặc thù của marketing dịch vụ du lịch (thời gian tiếp xúc ngắn, yếu tố cảm xúc, quản lý bằng chứng vật chất, hình tượng, kênh phân phối qua trung gian lữ hành, tính phụ thuộc vào dịch vụ bổ trợ, tính dễ sao chép, và áp lực khuyến mại ngoài thời kỳ cao điểm). Khóa luận làm rõ cấu trúc phối thức Marketing-mix gồm chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến hỗn hợp và yếu tố con người.

Khóa luận sử dụng ba nhóm phương pháp nghiên cứu chính:

  • Phương pháp điều tra phỏng vấn: Trực tiếp phỏng vấn đại diện các tổ chức, cá nhân liên quan và phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến khách du lịch tại các điểm dừng chân, nghỉ ngơi trên tuyến tham quan Tràng An.
  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các chỉ tiêu ngành du lịch từ Sở Du lịch Ninh Bình, các sở chuyên ngành lân cận và hồ sơ dự án của Doanh nghiệp Xây dựng Xuân Trường.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp kiến thức địa lý, lịch sử văn hóa, kinh tế học và nghiệp vụ du lịch để đánh giá tiềm năng và thực trạng điểm đến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động marketing thu hút khách du lịch đến với khu du lịch Tràng An (Ninh Bình)

Tác giả trình bày bức tranh toàn diện về lý thuyết điểm đến và bản chất của kinh doanh du lịch. Trọng tâm của chương hướng vào việc nhận diện các đặc tính riêng biệt của thị trường khách du lịch nội địa. So với khách quốc tế, khách nội địa có quy mô thị trường lớn hơn nhiều lần do thuận lợi về khoảng cách địa lý, xu hướng tăng trưởng thu nhập, chế độ nghỉ hai ngày cuối tuần và nhu cầu tham gia các lễ hội truyền thống.

Để làm rõ tương quan quy mô và hiệu quả kinh tế của du lịch Ninh Bình so với các địa phương lân cận và bình diện chung của cả nước, tác giả đưa ra bảng số liệu tổng hợp các chỉ tiêu năm 2007:

Chỉ tiêu Đơn vị tính Cả nước Ninh Bình Thanh Hóa Hà Tây
Lao động trực tiếp Người 285.200 — — —
Lao động gián tiếp Người 750.000 — — —
Khách du lịch quốc tế Lượt 4.500 — — —
Khách du lịch nội địa Lượt 17.500 — — —
Doanh thu xã hội từ du lịch Tỷ đồng 36.000 310,0 523,5 495,0

(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2007 của các Sở Du lịch Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tây và Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia đào tạo nhân lực ngành du lịch theo nhu cầu xã hội tháng 3/2008 tại TP. Hồ Chí Minh)

Chương này cũng phân tích hành vi của khách nội địa với phương tiện di chuyển chủ yếu là đường bộ (ô tô cá nhân, xe khách) và đường sắt do chi phí phù hợp, trong khi vận chuyển hàng không chiếm tỷ lệ thấp do rào cản giá vé. Về mặt tiếp thị hỗn hợp, tác giả nhấn mạnh vai trò của truyền miệng (hiệu ứng rỉ tai) trong việc xây dựng niềm tin đối với dịch vụ vô hình, phân tích cấu trúc chu kỳ sống sản phẩm và phân loại lực lượng lao động ngành dịch vụ thành 4 nhóm tương ứng với mức độ tiếp xúc khách hàng.

Chương II: Tài nguyên du lịch và thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An (Ninh Bình)

Chương hai tập trung khảo sát hiện trạng tài nguyên và cơ sở hạ tầng của Khu du lịch Tràng An. Về mặt địa lý, khu du lịch có diện tích quy hoạch 1.961 ha, phân bố trên địa bàn 5 xã, phường: Trường Yên, Ninh Vân, Ninh Hải (huyện Hoa Lư), Gia Sinh (huyện Gia Viễn), Tân Thành và Ninh Nhất (thành phố Ninh Bình). Toàn khu được phân chia thành 5 khu chức năng:

  • Khu bảo tồn đặc biệt (Cố đô Hoa Lư)
  • Khu Trung tâm
  • Khu hang động
  • Khu dịch vụ du lịch
  • Khu tâm linh núi chùa Bái Đính

Tài nguyên du lịch tự nhiên của Tràng An đặc trưng bởi địa hình karst nhiệt đới ngập nước, gồm các dải núi đá vôi đan xen thung lũng và mạng lưới sông ngòi, chứa đựng 47 hạng mục di tích lịch sử và hệ thống hang động dài khoảng 20 km theo trục Bắc - Nam. Khóa luận dẫn lời nhận định của Giáo sư Trần Quốc Vượng khẳng định giá trị chiến lược của hệ thống hang động Tràng An trong việc Vua Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư làm kinh đô năm 968.

Về điều kiện khí hậu, căn cứ số liệu quan trắc trạm Ninh Bình theo tiêu chuẩn TCVN 4088-85, khu vực có các đặc trưng khí tượng phục vụ du lịch:

Thông số khí hậu trạm Ninh Bình Giá trị đo đạc / Thống kê
Nhiệt độ trung bình năm 23,5°C
Tháng có nhiệt độ cao nhất Tháng 7 (29,3°C)
Tháng có nhiệt độ thấp nhất Tháng 1 (17,9°C)
Nhiệt độ cực đại tuyệt đối 41,5°C
Nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối 5,5°C
Tổng số giờ nắng trung bình năm 1.646 giờ (tháng 6 cao nhất: 187,4 giờ; tháng 2 thấp nhất: 23,4 giờ)
Độ ẩm trung bình năm 85% (tháng 2 cao nhất: 89%; tháng 11 thấp nhất: 75%)
Chế độ mưa 125 - 127 ngày mưa/năm; lượng mưa tháng 5 - 10 chiếm 86% - 91% tổng lượng năm

Về thực trạng triển khai hoạt động marketing, tác giả chỉ ra các điểm hạn chế: chính sách sản phẩm còn đơn điệu, chủ yếu dựa vào việc vãn cảnh hang động bằng thuyền chèo và lễ bái tại chùa Bái Đính; các dịch vụ bổ trợ, giải trí về đêm và nghỉ dưỡng chưa thành hình; chính sách định giá chưa có tính phân hóa mùa vụ; hoạt động xúc tiến quảng bá chưa đồng bộ, chủ yếu dựa vào truyền thông tự phát; nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ (như người chèo đò) phần lớn là cư dân nông nghiệp chuyển đổi, thiếu kỹ năng giao tiếp và kiến thức văn hóa - du lịch chuyên sâu.

Chương III: Một số giải pháp marketing nhằm thu hút khách du lịch đến với khu du lịch Tràng An (Ninh Bình)

Trên cơ sở định hướng tổ chức không gian du lịch của tỉnh Ninh Bình đến năm 2015 với tam giác không gian ưu tiên Tràng An - Tam Cốc Bích Động - Cố đô Hoa Lư, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp marketing hỗn hợp:

  1. Nghiên cứu và lựa chọn thị trường mục tiêu: Tập trung vào phân đoạn khách nội địa từ vùng đồng bằng sông Hồng, đô thị Hà Nội với nhu cầu du lịch tâm linh, văn hóa - lịch sử và nghỉ ngơi cuối tuần.
  2. Hoàn thiện chính sách sản phẩm: Đa dạng hóa dịch vụ, nâng cấp chất lượng tuyến thuyền ngắm cảnh, xây dựng mô hình nghỉ dưỡng cuối tuần, phát triển các tuyến tour kết nối liên hoàn giữa Tràng An với Cố đô Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động và Khu bảo tồn Vân Long.
  3. Hoàn thiện chính sách giá: Áp dụng mức giá linh hoạt giữa các mùa trong năm, xây dựng gói giá ưu đãi (package) kết hợp giữa vé tham quan, thuyền đò và ăn uống cho các đoàn khách lớn.
  4. Đẩy mạnh chính sách xúc tiến: Tăng cường thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, xuất bản tập gấp, bản đồ chỉ dẫn du lịch, thiết lập trang thông tin quảng bá điểm đến trên internet.
  5. Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và nhân lực: Hoàn thiện hạ tầng bến bãi, vệ sinh môi trường, mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, thái độ ứng xử và kiến thức lịch sử cho cộng đồng cư dân địa phương tham gia chèo thuyền và phục vụ dịch vụ.

Bên cạnh giải pháp chuyên môn, tác giả đề xuất hệ thống kiến nghị đến 5 nhóm cơ quan quản lý:

  • Doanh nghiệp Xây dựng Xuân Trường: Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện giai đoạn 2 của dự án, quy hoạch các khu vực dịch vụ bài bản và quản lý chuyên nghiệp đội ngũ nhân viên đón tiếp.
  • UBND huyện Hoa Lư và Gia Viễn: Tăng cường công tác quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường cảnh quan và chấn chỉnh tình trạng bán hàng rong, chèo kéo khách.
  • Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình: Chủ trì công tác xúc tiến điểm đến cấp tỉnh và hỗ trợ tập huấn nghiệp vụ du lịch cho người dân bản địa.
  • Tổng cục Du lịch và Chính phủ: Hoàn thiện quy hoạch du lịch vùng và bố trí nguồn lực hỗ trợ đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng đến Ninh Bình.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tập hợp và trích xuất hệ thống dữ liệu thực tế về Khu du lịch Tràng An trong giai đoạn 2008 - 2009:

  • Xác lập cơ cấu không gian và thông số quy hoạch: 1.961 ha diện tích, 5 phân khu chức năng, 47 di tích lịch sử và hệ thống hang động kéo dài 20 km.
  • Đưa ra dữ liệu so sánh kinh tế ngành năm 2007: Doanh thu xã hội từ du lịch của Ninh Bình đạt 310 tỷ đồng, còn khiêm tốn khi so sánh với Thanh Hóa (523,5 tỷ đồng) và Hà Tây (495 tỷ đồng).
  • Cung cấp chuỗi số liệu khí hậu tiêu chuẩn (TCVN 4088-85) với các chỉ số cụ thể về nhiệt độ, số giờ nắng và lượng mưa, làm căn cứ xác định tính mùa vụ cho điểm đến.
  • Đóng góp khoa học của khóa luận thể hiện ở việc nhận diện sớm các vấn đề phát sinh ngay sau khi Tràng An hoàn thành giai đoạn 1 của dự án (2008). Tác giả đã kịp thời chỉ ra sự mất cân đối giữa tốc độ xây dựng cảnh quan với chất lượng dịch vụ bổ trợ và năng lực nghiệp vụ của lực lượng lao động địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ điều kiện nghiên cứu tại thời điểm thực hiện:

  • Nguồn tài liệu và dữ liệu sơ cấp về điểm đến Tràng An còn hạn chế do dự án mới đưa vào khai thác giai đoạn 1, chưa có hệ thống thống kê kinh doanh định kỳ và chuẩn hóa từ ban quản lý.
  • Phạm vi không gian khảo sát thực tế mới tập trung tại hai hạt nhân là chùa Bái Đính và tuyến hang động Tràng An, chưa bao quát chi tiết 3 phân khu còn lại trong tổng thể quy hoạch 1.961 ha.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu điều tra dừng ở mức thống kê mô tả, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố marketing đến quyết định chi tiêu của du khách.

Hướng nghiên cứu tiếp nối cần tập trung vào việc đánh giá hiệu quả kinh doanh sau khi hoàn thành giai đoạn 2 của dự án; nghiên cứu sức chứa du lịch (carrying capacity) của hệ thống hang động ngập nước; và xây dựng chiến lược xúc tiến thương hiệu Tràng An đối với thị trường khách quốc tế.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Du lịch học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Văn hóa du lịch cần tài liệu tham khảo về phương pháp luận ứng dụng Marketing-mix vào phát triển điểm đến thực tế.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý du lịch địa phương quan tâm đến quá trình hình thành, phát triển ban đầu của Quần thể Tràng An - Bái Đính giai đoạn 2004 - 2009.
  • Nội dung phân tích tài nguyên tự nhiên, điều kiện khí hậu và các đề xuất hoàn thiện dịch vụ lữ hành nội địa là phần có giá trị thực tiễn cao cho việc xây dựng chương trình tour tại Ninh Bình.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu du lịch Tràng An được quy hoạch trên diện tích bao nhiêu và thuộc địa phận các đơn vị hành chính nào?
Khu du lịch có tổng diện tích quy hoạch là 1.961 ha, nằm trên địa bàn 5 xã, phường gồm: xã Trường Yên, xã Ninh Vân, xã Ninh Hải (huyện Hoa Lư), xã Gia Sinh (huyện Gia Viễn) và phường Tân Thành, xã Ninh Nhất (thành phố Ninh Bình).

2. Dự án Khu du lịch Tràng An do đơn vị nào đầu tư và tiến độ thực tế ở thời điểm nghiên cứu ra sao?
Dự án do Doanh nghiệp Xây dựng Xuân Trường đầu tư xây dựng từ năm 2004, đã hoàn thiện giai đoạn 1 vào năm 2008 và đang tiếp tục triển khai giai đoạn 2 trong giai đoạn tác giả thực hiện khóa luận.

3. Căn cứ theo số liệu năm 2007 trong khóa luận, vị thế doanh thu du lịch của Ninh Bình so với các tỉnh lân cận như thế nào?
Năm 2007, doanh thu xã hội từ du lịch của tỉnh Ninh Bình đạt 310 tỷ đồng, thấp hơn đáng kể so với tỉnh Hà Tây (495 tỷ đồng) và tỉnh Thanh Hóa (523,5 tỷ đồng).

4. Toàn bộ Khu du lịch Tràng An được phân chia thành những khu chức năng chính nào?
Khu du lịch được cấu thành bởi 5 phân khu chức năng: Khu bảo tồn đặc biệt (khu Cố đô Hoa Lư), Khu Trung tâm, Khu hang động, Khu dịch vụ du lịch, và Khu tâm linh núi chùa Bái Đính.

5. Khóa luận nêu những đặc điểm khí hậu nổi bật nào tại trạm Ninh Bình cần lưu ý trong tổ chức du lịch?
Theo số liệu TCVN 4088-85, nhiệt độ trung bình năm là 23,5°C, biên độ cực trị từ 5,5°C đến 41,5°C; tổng số giờ nắng là 1.646 giờ/năm; lượng mưa phân bố không đều khi có từ 86% đến 91% lượng mưa năm tập trung vào giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Thị Trung Thu đã hoàn thành việc hệ thống hóa lý luận marketing dịch vụ du lịch và phản ánh trung thực bức tranh khai thác điểm đến Tràng An (Ninh Bình) trong giai đoạn khởi đầu (2008 - 2009). Đề tài chỉ rõ tiềm năng to lớn về cảnh quan karst và giá trị văn hóa lịch sử, đồng thời thẳng thắn nhận định các mặt còn yếu về hạ tầng, dịch vụ giải trí và chất lượng nguồn nhân lực phục vụ tại chỗ. Các giải pháp phối thức marketing và hệ thống kiến nghị được xây dựng sát với thẩm quyền của từng bên liên quan, tạo tiền đề tham khảo cho công tác quản lý và xúc tiến du lịch địa phương.