Giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Cần Thơ đến năm 2015

Luận văn thạc sĩ UEH đề xuất giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Cần Thơ đến năm 2015, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2008

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1. Những khái niệm cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2. Khái niệm về đầu tư

1.3. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.4. Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.5. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.6. Vai trò của ĐTTTNN đối với nền kinh tế Việt Nam

1.7. ĐTTTNN đối với vốn đầu tư xã hội và tăng trưởng kinh tế

1.8. ĐTTTNN với việc nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu

1.9. ĐTTTNN tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.10. ĐTTTNN với nguồn thu ngân sách và cán cân thanh toán quốc tế

1.11. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút ĐTTTNN vào TPCT

1.12. Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước và một số tỉnh thành của Việt Nam

1.12.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.12.2. Kinh nghiệm của các nước ASEAN

1.12.3. Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành của Việt Nam

1.13. Kết luận chương I

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐTTTNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ THỜI GIAN QUA

2.1. Sơ lược về thành phố Cần Thơ

2.2. Cơ sở hạ tầng

2.3. Thương mại – du lịch

2.4. Khoa học công nghệ

2.5. Tiềm năng của các khu công nghiệp tập trung

2.6. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Cần Thơ thời gian qua

2.6.1. Cấp phép ĐTTTNN từ 1998 đến 2007

2.6.2. Quy mô dự án

2.6.3. Thực hiện vốn ĐTTTNN từ 1988-2007

2.6.4. Rút phép, giải thể và chuyển đổi sở hữu dự án ĐTNN tại TPCT

2.7. Đánh giá về tình hình ĐTTTNN tại TPCT thời gian qua

2.7.1. Những thành tựu

2.8. Kết luận chương II

3. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO THÀNH PHỐ CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2015

3.1. Quan điểm, định hướng, mục tiêu thu hút ĐTTTNN vào TPCT đến năm 2015

3.2. Các giải pháp chủ yếu

3.2.1. Đẩy mạnh xây dựng hạ tầng thành phố Cần Thơ

3.2.2. Cải tiến mạnh mẽ công tác xúc tiến đầu tư

3.2.3. Thiết lập và vận hành hiệu quả các chính sách hỗ trợ đầu tư

3.2.4. Cải cách thủ tục hành chính, tăng cường công tác chống tham nhũng

3.2.5. Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu cho các dự án ĐTNN

3.2.6. Giải pháp liên kết vùng ĐBSCL

3.3. Một số kiến nghị

3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ

3.3.2. Kiến nghị với thành phố Cần Thơ

3.3.3. Kiến nghị với nhà ĐTNN

3.4. Kết luận chương III

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ, trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long, đang đứng trước nhiều cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Để đạt được mục tiêu này, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc thu hút FDI không chỉ giúp tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nhiều việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Tuy nhiên, để thực hiện điều này, Cần Thơ cần phải cải thiện môi trường đầu tư và phát triển hạ tầng.

1.1. Tình hình hiện tại của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cần Thơ

Trong những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Cần Thơ vẫn còn hạn chế so với tiềm năng. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và chế biến thực phẩm. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức như cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ và chính sách hỗ trợ đầu tư chưa thực sự hiệu quả.

1.2. Lợi ích của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại nhiều lợi ích cho Cần Thơ, bao gồm tăng trưởng kinh tế, tạo ra việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh. FDI cũng giúp chuyển giao công nghệ và nâng cao trình độ quản lý cho các doanh nghiệp địa phương.

II. Những thách thức trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Cần Thơ

Mặc dù có nhiều tiềm năng, Cần Thơ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các vấn đề như thủ tục hành chính phức tạp, thiếu thông tin về thị trường và cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ là những rào cản lớn.

2.1. Thủ tục hành chính và chính sách đầu tư

Thủ tục hành chính phức tạp và thiếu minh bạch trong chính sách đầu tư là một trong những nguyên nhân chính khiến nhà đầu tư nước ngoài ngần ngại khi đến Cần Thơ. Cần có sự cải cách mạnh mẽ để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.

2.2. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ

Cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ là một thách thức lớn đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cần Thơ cần đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng giao thông, điện, nước và các dịch vụ hỗ trợ khác để thu hút nhà đầu tư.

III. Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư tại Cần Thơ

Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Cần Thơ cần thực hiện một số giải pháp cải thiện môi trường đầu tư. Các giải pháp này bao gồm cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng hạ tầng và tăng cường xúc tiến đầu tư.

3.1. Cải cách thủ tục hành chính

Cần Thơ cần đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch hơn. Việc này sẽ giúp nhà đầu tư cảm thấy an tâm hơn khi quyết định đầu tư vào thành phố.

3.2. Đầu tư vào hạ tầng

Đầu tư vào hạ tầng giao thông, điện, nước và các dịch vụ hỗ trợ là rất cần thiết. Cần Thơ cần có kế hoạch cụ thể để phát triển hạ tầng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.

IV. Chính sách hỗ trợ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cần Thơ

Chính sách hỗ trợ đầu tư là yếu tố quan trọng giúp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cần Thơ cần xây dựng các chính sách ưu đãi hấp dẫn để thu hút nhà đầu tư, đồng thời đảm bảo tính cạnh tranh với các địa phương khác.

4.1. Các chính sách ưu đãi thuế

Cần Thơ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi thuế cho các dự án FDI, giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho nhà đầu tư. Điều này sẽ tạo động lực cho các nhà đầu tư quyết định đầu tư vào thành phố.

4.2. Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những chính sách quan trọng để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cần Thơ cần hợp tác với các trường đại học và tổ chức đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cần Thơ cho thấy rằng việc cải thiện môi trường đầu tư và thực hiện các chính sách hỗ trợ là rất cần thiết. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để xây dựng các chiến lược thu hút đầu tư hiệu quả hơn.

5.1. Đánh giá hiệu quả của các giải pháp

Các giải pháp đã được triển khai cần được đánh giá định kỳ để đảm bảo tính hiệu quả. Việc này sẽ giúp Cần Thơ điều chỉnh kịp thời các chính sách và giải pháp thu hút đầu tư.

5.2. Ứng dụng các mô hình thành công

Cần Thơ có thể học hỏi từ các mô hình thành công của các địa phương khác trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việc áp dụng các mô hình này sẽ giúp Cần Thơ cải thiện hiệu quả thu hút đầu tư.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cần Thơ

Tương lai của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cần Thơ phụ thuộc vào khả năng cải thiện môi trường đầu tư và thực hiện các chính sách hỗ trợ hiệu quả. Nếu Cần Thơ có thể vượt qua các thách thức hiện tại, thành phố sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

6.1. Triển vọng phát triển kinh tế

Với các giải pháp đúng đắn, Cần Thơ có thể phát triển mạnh mẽ và thu hút nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài hơn trong tương lai. Điều này sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

6.2. Tầm nhìn dài hạn cho đầu tư

Cần Thơ cần có tầm nhìn dài hạn trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việc xây dựng một chiến lược phát triển bền vững sẽ giúp thành phố duy trì được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh một số giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố cần thơ đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Những khái niệm cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm về đầu tư Theo Luật Đầu Tư năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam thì “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”[18]. Có rất nhiều khái niệm về đầu tư do các học giả cả nước ngoài và trong nước đưa ra.

Theo “The New Palgrave Dictionary of Money and Finance” của Peter Newman Murray, John Eatwell biên soạn thì “đầu tư là một sự hình thành vốn thụ đắc hay tạo ra một nguồn tài nguyên sẽ được dùng trong sản xuất”. Trong cuốn “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”, PGS.TS Trần Ngọc Thơ đưa ra khái niệm “đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn) giá trị trong tương lai”[22]. Còn theo Từ điển Quản lý Ngân hàng thì tùy theo quan điểm sẽ có ba khái niệm chính về đầu tư : ) Theo quan điểm kinh tế : Đầu tư là tạo một số vốn cố định tham gia vào hoạt động của xí nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp. Đây là vấn đề tích lũy các yếu tố vật lý chủ yếu về sản xuất hay thương mại.

) Theo quan điểm tài chính : Đầu tư là làm bất động một số vốn nhằm rút ra tiền lãi trong nhiều thời kỳ nối tiếp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ) Theo quan điểm kế toán : Khái niệm đầu tư gắn liền với phân bổ một khoản chi vào một trong các khoản mục của bảng cân đối kế toán. Tuy có rất nhiều cách khái niệm về đầu tư nhưng có thể hiểu một cách đơn giản “đầu tư là một hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lợi trong tương lai. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Đầu Tư năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam thì đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ do hai khái niệm ghép lại đó là khái niệm “đầu tư trực tiếp” và khái niệm “đầu tư nước ngoài”.

Theo đó “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư tại Việt Nam”[18]. Do đó có thể hiểu “đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam”.Graham “đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư) thụ đắc quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư)”.Daniesl và Lee H. Radebaugh trong cuốn “kinh doanh quốc tế” của NXB thống kê, 2005 thì “việc bán ở ngoại quốc đang được thực hiện ngày càng nhiều hơn từ các cơ sở sản xuất được điều hành ở nước ngoài.

Điều này gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)”[7]. Nguyễn Khắc Thân thì “đầu tư trực tiếp nước ngoài là dạng đầu tư trực tiếp do nguồn vốn từ bên ngoài mà chủ thể của nó là tư nhân hay nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế được nước chủ nhà cho phép đầu tư vào những ngành hoặc những lĩnh vực nào đó của một nước nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định”[20]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trong sách “tài chính quốc tế” của trường Đại học Kinh tế TPHCM xuất bản năm 2002 thì “đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư) nắm giữ quyền kiểm soát kinh tế ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư)”. Tóm lại, ĐTTTNN có thể được định nghĩa là hình thức đầu tư quốc tế mà người chủ sở hữu vốn sẽ trực tiếp điều hành sử dụng vốn bỏ ra.

Chủ thể của ĐTTTNN chủ yếu là các công ty đa quốc gia (MNC), chiếm hơn 90% khối lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới, phần còn lại thuộc về các chính phủ và các tổ chức quốc tế khác. Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài ĐTTTNN xét theo khía cạnh là loại đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý điều hành thì ĐTTTNN đã xuất hiện từ thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản. Bước sang thế kỷ XIX khi mà chủ nghĩa đế quốc ra đời và phát triển thì ĐTTTNN cũng phát triển mạnh với việc xem các nước thuộc địa là những nước tiếp nhận đầu tư. Như vậy ban đầu ĐTTTNN bị kỳ thị xem đây như là một cách thức bóc lột của các nước tư bản đối với thuộc địa.

Tuy nhiên, nó cũng mang lại lợi ích cho các nước thuộc địa như xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sắt, cầu đường, cảng biển, sân bay, những đô thị lớn.) đó là những yếu tố quan trọng giúp cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước thuộc địa. Điều mà các nước đế quốc cho rằng đó là “khai hóa văn minh”. Trải qua lịch sử phát triển kinh tế quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thật sự trở thành hình thức hợp tác kinh doanh quốc tế có hiệu quả nên nó không những được hoan nghênh, mời chào mà còn có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các quốc gia để lôi kéo loại đầu tư này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn bị ràng buộc bởi sự có hạn của các yếu tố đầu vào của sản xuất (tài nguyên, lao động) và sự hạn chế đầu ra của sản xuất (thị trường).

Đây là những yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tư chuyển vốn của mình ra đầu tư ở nước ngoài. Hay nói cách khác, việc tìm kiếm theo đuổi lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh là bản chất, động cơ và mục đích cơ bản xuyên suốt của các nhà đầu tư khi tìm kiếm yếu tố sản xuất và thị trường ở nước ngoài. Khi một hàng hóa ở giai đoạn chín muồi, sản lượng đã tăng lên nhanh chóng thì hai hiện tượng ngược chiều diễn ra đó là cung lớn hơn cầu tạo áp lực phải giảm giá nhưng ngược lại với sự sản xuất quá nhiều hàng hóa đó thì các nguồn tài nguyên trở nên khan hiếm hơn, giá nhân công trở nên đắt hơn. Áp lực này đòi hỏi nhà sản xuất phải tìm kiếm thị trường ở nước ngoài để tiêu thụ sản phẩm và tìm kiếm nguồn tài nguyên cũng như nhân công ở các nước với giá rẻ hơn.

Trong kinh tế hiện đại, nền sản xuất không thể tồn tại trong khuôn khổ chật hẹp của một quốc gia. Theo cách truyền thống thì nhà sản xuất tìm kiếm thị trường nước ngoài bằng cách xuất khẩu. Nhưng trong điều kiện mậu dịch quốc tế còn nhiều trở ngại như hàng rào thuế quan, chính sách hạn chế hoặc cấm nhập một số loại hàng hóa để thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất trong nước của một số quốc gia đã làm cho hình thức xuất khẩu để thâm nhập thị trường nước ngoài của nhà sản xuất gặp khó khăn. Trong trường hợp này đầu tư trực tiếp để sản xuất ngay tại nước ngoài là một lựa chọn khôn ngoan.

Nhà đầu tư nước ngoài không những né tránh được hàng rào thuế quan, chính sách nhập khẩu của nước tiếp nhận đầu tư mà còn tận dụng được chính sách hướng về xuất khẩu và các ưu đãi về thuế cũng như ưu đãi về giá cho thuê cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Cuối cùng là động cơ chính trị. Khi các chính phủ tham dự vào đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể nhằm đạt đến một vài lợi thế chính trị đó là mở rộng phạm vi ảnh hưởng hoặc nhằm đạt được việc cung cấp các nguồn lực chiến lược. Ví dụ nếu một công ty của Mỹ kiểm soát việc sản xuất nguyên vật liệu quan trọng tại một quốc gia kém phát triển, họ có thể ngăn chặn các quốc gia thù địch tiếp cận sản xuất.

Chẳng hạn trong đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, chính phủ Mỹ đã tạo rất nhiều khuyến khích khác nhau nhằm tăng khả năng sinh lợi của đầu tư nước họ vào các quốc gia Caribé không thân thiện với Cuba. Lý do là những khích lệ này sẽ thu hút nhiều đầu tư hơn vào vùng này làm cho kinh tế các nước đó mạnh lên với mục đích quảng bá cho hình ảnh các quốc gia thân thiện với Mỹ và nhằm cô lập Cuba. Tóm lại: Bản chất ĐTTTNN là - Mở rộng thị trường. - Tìm kiếm nguồn lực.

- Động cơ chính trị phụ thêm. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Đầu Tư năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam thì có 6 hình thức đầu tư trực tiếp, nhưng đây là luật dùng chung cho đầu tư trong nước và đầu từ nước ngoài nên chỉ cần thêm yếu tố nước ngoài ta sẽ có đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài Theo hình thức này nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức 100% vốn để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấp chứng nhận đầu tư. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Nhà đầu tư nước ngoài liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ