Đặt vấn đề Biến đổi khí hậu và những tác động của nó đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Việt Nam là một trong 5 nƣớc sẽ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng. Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, đƣợc chia thành tiểu vùng chủ yếu. Đặc biệt Phú Thọ có 3 con sông lớn chảy qua: sông Hồng , sông Lô và sông Đà.
Và hằng năm đã phải chịu nhiều ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu toàn cầu. Những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh hạn hán bất thƣờng liên tục xảy ra, lũ lụt không theo quy luật, đặc biệt nhiệt độ không khí ngày càng tăng cao. Chỉ tính từ năm 2001 đến nay, tỉnh bị ảnh hƣởng trực tiếp của 25 cơn bão, 2 áp thấp, trên 85 trận lốc xoáy, mƣa đá, mƣa lớn cục bộ, 19 trận lũ quét với cƣờng độ cao…đã khiến cho nhiều công trình, nhà cửa bị hƣ hỏng nặng, năng suất nông nghiệp giảm sút. Nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm đối với các yếu tố khí hậu nhƣ nhiệt độ, số ngày nắng, lƣợng mƣa…Vì vậy biến đổi khí hậu tác động rất lớn đến nông nghiệp.
Biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp đến cuộc sống ngƣời dân nơi đây. Đặc biệt là cuộc sống của ngƣời nông dân bị ảnh hƣởng nghiêm trọng khi mức độ xâm thực ngày càng lớn, đất nông nghiệp bị thu hẹp dần, cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, thủy lợi bị hƣ hại. Vì vậy việc nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu và từ đó đề ra các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp tỉnh Phú Thọ là hết sức cấp thiết. Xuất phát từ lí do đó em tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động và đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ”.
Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá mức độ ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Từ đó đề xuất những giải pháp để nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm phát triển nền nông nghiệp huyện Tam Nông theo hƣớng thích ứng với biến đổi khí hậu. Tham gia cùng cộng đồng trong việc giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp.
Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu ảnh hƣởng đến lĩnh vực trồng trọt huyện Tam Nông. - Đề xuất một số giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu cho lĩnh vực trồng trọt huyện Tam Nông. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Bổ sung nguồn tài liệu nghiên cứu tác động biến đổi khí hậu lên lĩnh vực trồng trọt huyện Tam Nông.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho các nhà quản lí có cơ sở trong việc hành động, có giải pháp để thích ứng với biến đổi khí hậu cho lĩnh vực trồng trọt huyện Tam nông. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm có liên quan Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định đƣợc xác định bằng tổ hợp các yếu tố: Nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mƣa,…[9] Khí hậu thƣờng đƣợc định nghĩa là trung bình theo thời gian của thời tiết (thƣờng là 30 năm).[9] Biến đổi khí hậu(BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thƣờng là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển. Bao gồm cả trong khai thác sử dụng đất.[9] Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra biến đổi khí hậu.[9] Thích nghi/ Thích ứng/ Thích hợp với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu và tận dụng các cơ hội do nó mang lại.[9] Tính tổn thương/ Khả năng (bị) tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống( tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu.[9] Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong tƣơng lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, phát thải khí nhà n 4 kính, biến đổi khí hậu mà mực nƣớc biển dâng. Lƣu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó chỉ đƣa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển kinh tế - xã hội và hệ thống khí hậu.[9] Nước biển dâng là sự dâng mực nƣớc của đại dƣơng trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nƣớc dâng do bão,.Nƣớc biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dƣơng và các yếu tố khác.[9] Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con ngƣời phải dựa vào quy luật sinh trƣởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm nhƣ lƣơng thực, thực phẩm. để thoả mãn các nhu cầu của mình.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngƣ nghiệp. Nhƣ vậy, Nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Các điều kiện tự nhiên nhƣ đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lƣợng mƣa, bức xạ mặt trời. trực tiếp ảnh hƣởng đến năng suất, sản lƣợng cây trồng vật nuôi.
Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc nhiề u vào thiên nhiên ; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta thƣờng gắn liền với những phƣơng pháp canh tác còn thô sơ và lạc hậu. Nguyên nhân của BĐKH Có hai nguyên nhân chính dẫn đến BĐKH là: do thiên nhiên và do con ngƣời. Trong những thập niên gần đây các hoạt động kinh tế - xã hội của con ngƣời ngày một phát triển dẫn đến lƣợng khí thải nhà kính không ngừng tăng lên, cùng với đó việc khai thác các bể hấp thụ khí nhà kính nhƣ rừng, hệ sinh n 5 thái biển.làm cho hàm lƣợng các khí nhà kính trong không khí luôn ở mức cao.
Một số loại khí nhà kính điển hình: - CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con ngƣời gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp nhƣ sản xuất xi măng và cán thép. - CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than. - N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
- Các chất phá hủy ôzôn. - PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm. - SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê. Hiện nay, Nghị định thƣ kyoto vẫn là một công cụ hữu hiệu đƣợc hầu hết các quốc gia ủng hộ nhằm hạn chế và ổn định các loại khí nhà kính nói trên.
Các biểu hiện của BĐKH Sự nóng lên toàn cầu là rất rõ ràng với những biểu hiện của sự gia tăng nhiệt độ không khí và đại dƣơng, sự tan băng trên diện rộng và qua đó là mức tăng mực nƣớc biển trung bình toàn cầu.[2] a, Sự nóng lên toàn cầu Trong 100 năm qua ( 1906 -2005 ), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,740C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trƣớc đó. Trong 10 năm qua ( tính từ năm 2001), nhiệt độ trung bình cao hơn 0,50C so với giai đoạn 1961 – 1990. Một số hiện tƣợng tiêu biểu liên quan đến nhiệt độ tăng nhƣ sau: - Giai đoạn 1995 – 2006 có 11 năm ( trừ 1996 ) đƣợc xếp vào danh sách 12 năm nhiệt độ cao nhất trong lịch sử kể từ năm 1850, nóng nhất là năm 1998 và năm 2005. Gần đây nhất là năm 2010, năm đƣợc coi là nóng nhất n 6 trong lịch sử và tháng 6 năm 2010 đƣợc ghi nhận là tháng nóng nhất trên toàn thế giới kể từ năm 1880.
- Đáng lƣu ý là, mức tăng nhiệt độ của Bắc Cực gấp đôi mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu. Nhiệt độ cực trị cũng có xu thế phù hợp với nhiệt độ trung bình, kết quả là giảm số đêm lạnh và tăng số ngày nóng. - Trên phạm vi toàn cầu, lƣợng mƣa tăng ở các đới phía bắc ( vĩ độ 300 Bắc) nhƣ Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á và giảm đi ở vĩ độ nhiệt đới nhƣ Nam Á và Tây Phi. Tần số mƣa lớn tăng trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lƣợng mƣa có xu thế giảm.
- Nhiệt độ mặt đất tăng kéo theo sự suy giảm của khối lƣợng băng trên phạm vi toàn cầu, từ năm 1978 đến nay lƣợng băng trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dƣơng giảm 2,1 – 3,3% mỗi thập kỷ. b, Mực nước biển dâng Nƣớc biển dâng là sự dâng mực nƣớc của đại dƣơng trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nƣớc dâng do bão [11].Nƣớc biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dƣơng và các yếu tố khác. Quan trắc mực nƣớc biển cho thấy mực nƣớc biển trung bình tăng khoảng 20cm trong vòng 100 năm qua. Trong thập kỷ qua, mực nƣớc biển dâng nhanh nhất ở vùng phía tây Thái Bình Dƣơng và phía đông Ấn Độ Dƣơng.
Mực nƣớc biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do sự đóng góp của các thành phần chứa nƣớc trên toàn cầu đƣợc ƣớc tính gồm: giãn nở nhiệt độ của đại dƣơng, các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nƣớc trên đất liền.