phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu - Chƣơng 2. Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3. Thực trạng về giải quyết việc làm cho lao động Thành phố Hạ Long Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 - Chƣơng 4.
Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động Thành phố Hạ Long đến năm 2020. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. Cơ sở lý luận về việc làm và tạo việc làm 1. Khái niệm việc làm và tạo việc làm 1.
Khái niệm về việc làm Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, ngƣời ta đã đƣa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… ngƣời ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, ta phải liên hệ đến phạm trù lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu đƣợc của con ngƣời, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con ngƣời. Bản thân cá nhân mỗi con ngƣời trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định. Mỗi vị trí mà ngƣời lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tƣ cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất đƣợc gọi là chỗ làm hay việc làm. Nhƣ vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất.
Ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà ngƣời lao động mới thực hiện đƣợc quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Nhƣ vậy, một hoạt động đƣợc coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: Đó là những công việc mà ngƣời lao động nhận đƣợc tiền công, đó là những công việc mà ngƣời lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải đƣợc pháp luật thừa nhận. Trên thực tế, việc làm đƣợc thừa nhận dƣới 3 hình thức: - Làm công việc để nhận đƣợc tiền lƣơng, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó.
- Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tƣ liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. - Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó. Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã đƣợc quy định tại Điều 13 của Bộ luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà ngƣời ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ. Việc làm chính là công việc mà ngƣời thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác. Việc làm phụ là công việc mà ngƣời thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính.
Ngoài ra, ngƣời ta còn chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm. - Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 - Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của Nhà nƣớc 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần. Thời gian làm việc có thể dao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục.
- Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức, không thƣờng xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định. Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững. Khái niệm tạo việc làm Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lƣợng, chất lƣợng tƣ liệu sản xuất, số lƣợng và chất lƣợng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tƣ liệu sản xuất và sức lao động. Cơ chế tạo việc làm: Cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của ngƣời lao động, nhà nƣớc và ngƣời sử dụng lao động.
Về phía người lao động: muốn tìm đƣợc việc làm phù hợp, có thu nhập cao, đƣơng nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tƣ cho phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc là dựa vào các nguồn tài trợ (từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định điều kiện cần thiết cho ngƣời lao động tham gia vào thị trƣờng lao động. Về phía Nhà nước: tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính sách liên quan trực tiếp đến ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, tạo môi trƣờng pháp lý kết hợp sức lao động với tƣ liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho ngƣời lao động. Về phía người sử dụng lao động: gồm các doanh nghiệp trong nƣớc thuộc các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trƣờng đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn phải duy trì và phát triển chỗ làm việc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 cho ngƣời lao động. Do đó, ngƣời sử dụng lao động cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xƣởng (nơi làm việc), công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ.
Hơn nữa, để mở rộng quy mô sản xuất nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động không chỉ cần có vốn mà còn cần thiết có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của Nhà nƣớc trong lĩnh vực lao động, việc làm đồng thời đề ra đƣợc các quy định phù hợp, biết quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức và nâng cao sự thoả mãn của ngƣời lao động, khơi dậy động lực lao động nhằm thu hút và giữ chân những ngƣời lao động giỏi, phù hợp với yêu cầu công việc - tài sản quan trọng nhất của tổ chức, yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh. Tóm lại, cơ chế tạo việc làm cho ngƣời lao động đòi hỏi sự tham gia tích cực của cả ba phía: Nhà nƣớc, ngƣời sử dụng lao động và của chính bản thân những ngƣời lao động. Sao cho cơ hội việc làm và mong muốn nguyện vọng đƣợc làm việc của ngƣời lao động gặp nhau trên thị trƣờng đúng lúc, đúng chỗ. Vai trò của việc làm Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hƣởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những ngƣời không có việc làm thƣờng tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cƣ khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,.), vào những nhóm ngƣời nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp,. Việc không có việc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có. Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trƣởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hƣớng phát triển bền vững, ngƣợc lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của ngƣời lao động.
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó đƣợc duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con ngƣời đƣợc dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ… Ngƣợc lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho ngƣời lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển nhân cách con ngƣời. Con ngƣời có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trƣờng hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hƣởng đến lòng tự tin của con ngƣời, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội.