Tổng quan nghiên cứu

Huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình là một địa bàn thuần nông điển hình thuộc vùng đồng bằng sông Hồng với tổng dân số năm 2016 đạt 232.400 người, trong đó dân số nông nghiệp chiếm tới 80,0% với 185.980 nhân khẩu. Toàn huyện có 105.227 người trong độ tuổi lao động, song lực lượng lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo 68,5% với 72.066 người. Quá trình đô thị hóa và phát triển cụm công nghiệp đã khiến diện tích đất nông nghiệp của huyện suy giảm nhanh chóng từ 13.307,6 ha năm 2014 xuống còn 12.649,7 ha năm 2016, tương ứng mức giảm bình quân 2,5% mỗi năm. Tình trạng thiếu tư liệu sản xuất cùng tính chất mùa vụ đặc thù đã đẩy tỷ lệ thiếu việc làm tại nông thôn lên tới 47,85%, tạo nên áp lực giải quyết việc làm cho hơn 5.000 lao động mới gia nhập thị trường hàng năm.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn huyện Vũ Thư, thời gian khảo sát thực tế giai đoạn 2014 - 2016 và định hướng giải pháp đến năm 2020. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình đóng góp hệ thống số liệu khoa học xác thực nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 55%, hạ tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 4% và giải quyết việc làm bền vững cho hàng ngàn lao động nông nhàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu lao động của Arthur Lewis và khung phân tích thị trường lao động tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế. Quá trình chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp có năng suất cận biên thấp sang khu vực phi nông nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc gia tăng tổng sản phẩm xã hội và thu hẹp khoảng cách phát triển. Khung lý thuyết tích hợp 5 khái niệm cốt lõi:

Thứ nhất, lao động nông thôn là những người trong độ tuổi lao động cư trú và hoạt động trong các ngành kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại địa bàn nông thôn.

Thứ hai, việc làm được xác định là mọi hoạt động lao động hợp pháp tạo ra nguồn thu nhập theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012.

Thứ ba, thiếu việc làm phản ánh tình trạng người lao động làm việc dưới 40 giờ một tuần, có nhu cầu và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc.

Thứ tư, thất nghiệp là hiện tượng người có khả năng lao động, có nhu cầu tìm việc nhưng chưa có việc làm.

Thứ năm, tạo việc làm mới biểu thị sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất mới nhằm gia tăng chỗ làm việc và thu nhập xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và chiều sâu phân tích:

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi trực tiếp với quy mô cỡ mẫu 150 người lao động tại 3 xã đại diện: Nguyên Xá (đại diện cho vùng phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp), Minh Quang (vùng phát triển dịch vụ thương mại) và Hồng Lý (vùng thuần nông ven sông Hồng). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên giúp thu thập dữ liệu đa chiều, phản ánh đầy đủ các phân khúc lao động theo độ tuổi, giới tính và ngành nghề.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê giai đoạn 2014 - 2016 của huyện Vũ Thư, báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, các văn bản chính sách của Ủy ban nhân dân tỉnh và hệ thống dữ liệu 87 trạm biến áp, 30 cơ sở y tế trên toàn huyện.

Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, phân tổ thống kê, so sánh tương đối - tuyệt đối và phương pháp dự báo xu thế. Việc lựa chọn các phương pháp này cho phép nhận diện rõ nét quy luật phân bổ lao động, bóc tách các điểm nghẽn về trình độ chuyên môn và dự báo chính xác nhu cầu việc làm trong chu kỳ 3 đến 5 năm tiếp theo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất, mặt bằng học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn huyện Vũ Thư còn rất hạn chế. Năm 2016, tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ chiếm 27,67%, trong khi có tới 16,46% chỉ học hết tiểu học và 4,09% chưa hoàn thành bậc tiểu học. Xét về chuyên môn kỹ thuật, 46,13% lao động chưa từng qua đào tạo nghề, và tỷ lệ có trình độ từ cao đẳng trở lên chỉ đạt 7,24%.

Phát hiện thứ hai, cơ cấu lao động phân bổ lệch pha nghiêm trọng so với tiềm năng phát triển. Năm 2016, lao động nông nghiệp chiếm tới 74,52% tổng lực lượng lao động nông thôn. Tỷ lệ thiếu việc làm duy trì ở mức cao 47,85%. Tổng số người thất nghiệp là 5.141 lao động, trong đó nhóm tuổi trẻ từ 15 đến 24 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo 59,82% và có 39,54% người thất nghiệp hoàn toàn chưa qua đào tạo chuyên môn. Tỷ lệ thất nghiệp chung giảm nhẹ từ 4,45% năm 2014 xuống 4,25% năm 2016.

Phát hiện thứ ba, hiệu quả từ các chương trình tạo việc làm đã có bước tiến rõ rệt nhưng chưa đồng đều. Giai đoạn 2014 - 2016, huyện đã đưa 9.900 lao động đi xuất khẩu ra nước ngoài, trong đó có 1.356 lao động nông thôn. Về đào tạo nghề, huyện tổ chức truyền nghề cho 1.730 lao động thuộc các lĩnh vực may công nghiệp, mây tre đan, cơ điện, trồng trọt và chăn nuôi. Sau đào tạo, 696 người đã chủ động tự tạo việc làm, đạt tỷ lệ thành công 42,23%.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ thiếu việc làm 47,85% xuất phát trực tiếp từ sự suy giảm quỹ đất nông nghiệp bình quân hộ (giảm từ 722 m2/người năm 2014 xuống 680,2 m2/người năm 2016) và tính chất vụ mùa nhàn rỗi. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 59,82% phản ánh sự thiếu hụt kỹ năng mềm, tác phong công nghiệp và thể lực chưa đáp ứng yêu cầu của các khu chế xuất.

So sánh với các nghiên cứu tại tỉnh Hưng Yên (nơi giải quyết 150.000 việc làm mỗi năm nhờ hệ thống khu công nghiệp) hay tỉnh Hà Nam (nơi hỗ trợ 1,9 tỷ đồng vốn vay cho 42 dự án giải quyết việc làm vùng thu hồi đất), huyện Vũ Thư vẫn còn thiếu các mô hình liên kết đào tạo nghề gắn liền đơn đặt hàng doanh nghiệp quy mô lớn.

Dữ liệu khảo sát được trực quan hóa thông qua các bảng phân tổ độ tuổi và biểu đồ cơ cấu học vấn, chỉ ra rằng việc nâng cấp cơ sở hạ tầng gồm 250,278 km đường nhựa và hệ thống 30 đài truyền thanh xã chính là bệ phóng lý tưởng để xúc tiến thị trường lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện chủ trì phối hợp với các công ty may mặc, cơ khí trên địa bàn tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn 3 tháng. Mục tiêu đào tạo từ 1.000 đến 1.500 lao động nông thôn mỗi năm giai đoạn 2018 - 2020, nâng tỷ lệ học viên có việc làm ngay sau tốt nghiệp lên trên 85%.

Thứ hai, mở rộng và chuẩn hóa công tác xuất khẩu lao động: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Vũ Thư phối hợp với các doanh nghiệp được cấp phép đưa 500 đến 600 lao động nông thôn đi làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan mỗi năm. Đồng thời, tổ chức giáo dục định hướng, kỷ luật lao động nhằm hạ tỷ lệ vi phạm hợp đồng xuống dưới 1%.

Thứ ba, đẩy mạnh chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ tự tạo việc làm: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện giải ngân gói vốn vay ưu đãi với hạn mức từ 2 đến 3 tỷ đồng mỗi năm, hỗ trợ trực tiếp cho khoảng 300 hộ gia đình phát triển mô hình kinh tế trang trại, tiểu thủ công nghiệp mây tre đan và cơ khí đúc đồng.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường và sàn giao dịch việc làm: Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo tổ chức định kỳ 4 phiên giao dịch việc làm lưu động mỗi năm tại các cụm xã, kết hợp phổ biến bản tin tuyển dụng qua 30 đài truyền thanh xã và bưu điện văn hóa, bảo đảm 100% người lao động tiếp cận kịp thời thông tin tuyển dụng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý kinh tế và nhà hoạch định chính sách cấp huyện, tỉnh: Cung cấp nguồn luận cứ khoa học thực chứng cùng bộ số liệu toàn diện giai đoạn 2014 - 2016, hỗ trợ xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và kế hoạch giải quyết việc làm trung hạn 2018 - 2020.

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm dịch vụ việc làm: Tham khảo khung chương trình đào tạo nghề sơ cấp 3 tháng theo hình thức cầm tay chỉ việc, tối ưu hóa nội dung giảng dạy thực hành gắn liền với đơn đặt hàng thực tế của các nhà máy công nghiệp.

Doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ cơ sở làng nghề: Nắm bắt chi tiết đặc điểm nhân khẩu học, trình độ tay nghề của 105.227 lao động tại địa phương để xây dựng chiến lược tuyển dụng, phân bổ chi phí nhân công và mở rộng xưởng gia công vệ tinh.

Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra chọn mẫu 150 người, kỹ thuật phân tổ thống kê và hệ thống chỉ tiêu phân tích việc làm nông thôn cấp huyện.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng việc làm nổi cộm nhất tại huyện Vũ Thư giai đoạn nghiên cứu là gì?

Thực trạng nổi cộm nhất là tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn lên tới 47,85% vào năm 2016, cùng với việc 74,52% lao động vẫn tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp đơn thuần. Bên cạnh đó, có đến 46,13% lao động nông thôn chưa từng qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, gây cản trở lớn cho việc chuyển đổi sinh kế sang công nghiệp.

Tại sao lao động trẻ trong độ tuổi 15 đến 24 tuổi lại chiếm tỷ lệ thất nghiệp cao nhất?

Nhóm tuổi 15 đến 24 chiếm 59,82% trong tổng số 5.141 người thất nghiệp năm 2016 do thiếu kỹ năng nghề thực tế, thiếu tác phong công nghiệp và chưa định hình rõ mục tiêu nghề nghiệp. Có tới 39,54% lao động thất nghiệp hoàn toàn chưa qua đào tạo nghề, dẫn đến không đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng của các doanh nghiệp chế xuất.

Kênh xuất khẩu lao động đem lại hiệu quả thực tế như thế nào đối với huyện Vũ Thư?

Giai đoạn 2014 - 2016, toàn huyện đã có 9.900 người đi làm việc ở nước ngoài, trong đó có 1.356 lao động nông thôn. Xuất khẩu lao động tạo nguồn thu nhập cao gấp 3 đến 5 lần so với làm nông nghiệp truyền thống, mang lại nguồn kiều hối quý báu để các hộ gia đình tái đầu tư mở rộng sản xuất tại địa phương.

Chương trình dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn đạt kết quả ra sao?

Huyện đã tổ chức dạy nghề cho 1.730 người với các nghề mây tre đan, may công nghiệp, đúc đồng, chăn nuôi và điện dân dụng. Trong số đó, 696 học viên (chiếm 42,23%) đã tự tạo được việc làm mới cho bản thân với mức thu nhập ổn định, góp phần tích cực vào công tác giảm nghèo bền vững.

Cơ sở hạ tầng của huyện đóng vai trò thế nào trong việc tạo việc làm cho lao động?

Huyện sở hữu 250,278 km đường nhựa, 100% số xã có trạm biến áp và đài truyền thanh cùng 30 bưu điện văn hóa xã. Hệ thống hạ tầng giao thông và truyền thông hoàn chỉnh này tạo tiền đề vững chắc thu hút doanh nghiệp đầu tư, đồng thời bảo đảm thông tin tuyển dụng được chuyển tải nhanh chóng đến từng thôn bản.

Kết luận

  • Hệ thống hóa sâu sắc khung lý luận và cơ sở thực tiễn về thị trường lao động và tạo việc làm cho lao động nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa.
  • Phân tích chi tiết thực trạng 105.227 lao động huyện Vũ Thư giai đoạn 2014 - 2016 với tỷ lệ thiếu việc làm 47,85% và 74,52% lao động làm nông nghiệp.
  • Chỉ rõ các rào cản nội tại về trình độ học vấn (chỉ 27,67% tốt nghiệp cấp 3) và tỷ lệ chưa qua đào tạo nghề lên đến 46,13%.
  • Ghi nhận thành tựu giải quyết việc làm nổi bật thông qua 1.356 lao động nông thôn đi xuất khẩu và 1.730 lao động được đào tạo nghề.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về đào tạo nghề theo địa chỉ, vay vốn ưu đãi, xuất khẩu lao động và phát triển sàn giao dịch việc làm giai đoạn 2018 - 2020.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Văn Hạ là công trình nghiên cứu công phu, cung cấp cẩm nang giải pháp thiết thực cho công tác quản lý kinh tế địa phương. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hãy tải ngay toàn văn luận văn để khai thác chi tiết kho dữ liệu thực chứng và áp dụng hiệu quả vào công tác điều hành chính sách kinh tế - xã hội.