CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC TRONG LAO ĐỘNG 1. Khái niệm động lực và tạo động lực lao động 1. Khái niệm động lực Henry Ford (1863 - 1947) đã từng phát biểu: “Ai cũng có khả năng làm nhiều hơn những điều họ nghĩ họ có thể làm”. Chính vì khả năng con người là vô hạn và chính họ biến cái không thể thành có thể nên Henry Ford luôn coi con người là yếu tố thành công của doanh nghiệp mình và tạo động lực cho họ, để họ biết rằng họ có thể làm được nhiều hơn thế.
Phải chăng chính quan điểm này đã đưa doanh nghiệp Ford ngày càng hùng hậu và trở thành một trong những nhà sản xuất dòng xe hạng sang bán chạy nhất thế giới. Ngày nay, không chỉ có Henry Ford mà ngay cả các nhà lãnh đạo tại các tập đoàn lớn nhất thế giới như Steve Job, Bill Gates… cũng coi con người là yếu tố quan trọng và luôn tìm cách giữ chân người tài, giúp họ phát huy hết năng lực và cống hiến hết mình cho doanh nghiệp. Điều này được hiểu là việc tạo động lực. Động lực làm việc là một khái niệm khá rộng và có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Động lực làm việc chính là động cơ thúc đẩy con người làm việc. Stoner và Lyman W. Porter (Motivation and Work behavior, Tr. 190) động lực là sự thôi thúc, sự kiên định và sự bền bỉ trong quá trình làm việc.
“Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức.”1 “Động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động và trong những điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là 1 Trích giáo trình quản trị nhân lực- NXB Đại học kinh tế quốc dân năm 2010- chủ biên: Ths. Nguyễn Văn Điểm; PGS. Nguyễn Ngọc Quân- chương VII- trang 128.
Nguyễn Phương Thanh Lớp: QTDN A - K12 Khóa luận tốt nghiệp 7 Khoa Quản trị Kinh doanh sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.”2 Như vậy, ta có thể khái quát: động lực lao động là sự thôi thúc, kích thích người lao động nỗ lực lao động một cách tự nguyện nhằm đạt được một mục tiêu nào đó của tổ chức. Từ những quan điểm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thấy được động lực lao động có những bản chất sau. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa là sẽ không có động lực lao động chung cho mọi lao động.
Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ.
Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên, động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, và trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất.
2 Trích giáo trình Hành vi tổ chức, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Th.S Bùi Anh Tuấn. Nguyễn Phương Thanh Lớp: QTDN A - K12 Khóa luận tốt nghiệp 8 Khoa Quản trị Kinh doanh 1. Khái niệm tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là việc doanh nghiệp hay tổ chức sử dụng các phương tiện, các biện pháp khuyến khích, kích thích tác động vào người lao đông nhằm làm thay đổi hành vi của người lao động theo hướng tích cực và đạt được mục tiêu của tổ chức. Để tạo động lực tốt cho người lao động doanh nghiệp cần nghiên cứu và tìm ra các nhân tố tạo động lực cho lao động tại doanh nghiệp mình và tìm cách thỏa mãn nó một cách tốt nhất.
Do đó, Tạo động lực trong tổ chức là việc làm mang tính chiến lược, dài hạn, yêu cầu doanh nghiệp phải đầu tư tiền của và sức lực. Vai trò của công tác tạo động lực lao động trong doanh nghiệp 1. Đối với người lao động Tạo động lực lao động giúp người lao động cải thiện đời sống thông qua các công cụ tài chính. Nhờ khoản thu nhập hàng tháng từ tiền lương, tiền thưởng họ có cơ hội thay vì chỉ ăn no mặc ấm, họ có thể ăn ngon mặc đẹp theo sở thích cá nhân.
Tạo động lực lao động sẽ đồng nghĩa với việc điều kiện làm việc của NLĐ cũng được chú ý hơn. Vì thế, Thông qua các chính sách của Công ty người lao động sẽ được làm việc trong điều kiện tốt hơn với trang thiết bị đầy đủ, tiên tiến hơn và các thiết bị đảm bảo an toàn lao động được chú ý hơn. Bên cạnh việc chăm no điều kiện làm việc của NLĐ, doanh nghiệp cũng phải tạo ra môi trường lao động lành mạnh, tránh và hạn chế các xung đột trong các mối quan hệ ở môi trường tổ chức. Bởi tổ chức bao gồm một tập hợp người làm việc vì một mục tiêu chung nên việc nảy sinh các quan hệ giữa người với người là không thể tránh khỏi.
Khi công tác tạo động lực được chú ý thì tổ chức sẽ cố gắng dung hòa các mối quan hệ này , tạo điều kiện để chúng phát triển theo chiều hướng tích cực và lành mạnh hơn. Không chỉ thế, nhu cầu được tôn trọng và phát triển của NLĐ cũng được doanh nghiệp đề cao hơn. Doanh nghiệp tạo điều kiện cho người lao động được cập nhật tri thức, được học hỏi nâng cao tay nghề thông qua chính sách đào tạo phát triển. Tổ chức cũng thông qua chính sách tuyên dương, khen thưởng để ghi nhận Nguyễn Phương Thanh Lớp: QTDN A - K12 Khóa luận tốt nghiệp 9 Khoa Quản trị Kinh doanh thành thích của nhân viên khi họ có những sáng kiến lao động, hay đơn giản chỉ là lao động tích cực.
Hơn thế nữa, từ những đóng góp đó, người lao động còn có cơ hội thăng tiến lên vị trí cao hơn và phát triển bản thân một cách toàn diện hơn. Đối với tổ chức Tạo động lực lao động trong tổ chức tuy tốn kém chi phí và sức lực nhưng nếu tổ chức thực hiện tốt thì lợi ích mà nó mang lại sẽ rất lớn. Việc tạo động lực lao động góp phần xây dựng một tổ chức thống nhất, có văn hóa “đẹp” bởi khi đó mọi cá nhân trong doanh nghiệp đề đồng lòng, làm việc vì tổ chức một cách tự nguyên. Tạo động lực lao động khuyến khích người lao động sáng tạo, cống hiến từ đó, năng suất và hiệu quả công việc sẽ tăng lên, doanh nghiệp sẽ dễ dàng đạt được các mục tiêu của mình; Không chỉ vậy, về lâu dài, tạo động lực lao động sẽ giúp doanh nghiệp có được lòng trung thành và sự tin tưởng của NLĐ, họ sẽ có mong muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Điều này giúp doanh nghiệp xây dựng được hình ảnh, thương hiệu đẹp trên thị trường lao động. Từ đó, doanh nghiệp có cơ hội thu hút và tuyển chọn được nhiều người tài về với doanh nghiệp mình. Đối với xã hội Tạo động lực lao động đã gián tiếp giúp xây dựng một xã hội văn minh và phát triển hơn. Trước hết tạo động lực lao động góp phần nâng cao mức sống của người dân nhờ chính sách lương, thưởng được điều chỉnh; Nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động nhờ sự phát triển chính sách đào tạo trong tổ chức; Nâng cao năng suất lao động xã hội thông qua việc nâng cao năng suất lao động cá nhân… Từ đó, tạo động lực lao động góp phần hình thành nên một xã hội an toàn, văn minh và phát triển.
Nguyễn Phương Thanh Lớp: QTDN A - K12 Khóa luận tốt nghiệp 10 Khoa Quản trị Kinh doanh 1. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác tạo động lực lao động “Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống, làm việc của con người. Do đó, hành vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như: văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực cũng như sự thực hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tao động lực làm việc cho chính họ, chẳng hạn nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị.
Các nhân tố thuộc về tổ chức 1. Văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp có thể hiểu đơn giản đó là tính cách của tổ chức. Đỗ Thị Phi Hoài thì văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng tới cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó. Văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực lao động.
Với doanh nghiệp có văn hóa mạnh, mọi nhân viên đều ý thức duy trì và phát triển nền văn hóa ấy.