phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực làm việc cho công chức Chƣơng 2: Phân tích thực trạng động lực làm việc cho chông chức tại Sở Công thƣơng tỉnh Khăm Muộn Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực làm việc cho công chức tại Sở Công thƣơng tỉnh Khăm Muộn 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Công chức Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây vào nửa cuối thế kỷ XIX, mỗi quốc gia có quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức. Nền công vụ truyền thống Pháp quy định về công chức khá rõ: "Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc các công sở Nhà nước" (Điều 2 Chương II Quy chế chung về công chức Nhà nước của Pháp năm 1994 ) hay khái niệm khác: "Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công" theo đó công chức gồm 3 loại: công chức hành chính Nhà nƣớc, công chức thuộc cộng đồng lãnh thổ và công chức trực thuộc các công sở tự quản.
Trung Quốc khái niệm về công chức: Công chức nhà nƣớc là những ngƣời công tác trong cơ quan hành chính nhà nƣớc các cấp, trừ nhân viên phục vụ. Công chức gồm hai loại: - Công chức lãnh đạo là những ngƣời thừa hành quyền lực nhà nƣớc. Các công chức này bổ nhiệm theo trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. - Công chức nghiệp vụ là những ngƣời thi hành chế độ thƣờng nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức.
Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nƣớc, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật. 9 Tại Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành khi có sự ra đời của nền hành chính Nhà nƣớc và đã thay đồi nhiều lần. Tại điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa về quy chế công chức Việt Nam, thì công chức đƣợc hiểu là Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nƣớc đều là công chức theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định. Nhƣ vậy, phạm vi công chức chỉ xác định trong các cơ quan Chính phủ.
Trƣớc những đổi mới của đất nƣớc và yêu cầu khách quan của thời kỳ đổi mới cần cải cách nền hành chính và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức nhà nƣớc Việt Nam đến năm 2008, Luật Cán bộ, công chức ra đời (có hiệu lực từ 01/01/2010) đây là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trƣớc đến nay cắt nghĩa đƣợc rõ ràng hơn về khái niệm “công chức”. Trong luật Cán bộ, công chức, khái niệm công chức có phạm vi rộng hơn. Theo đó, “ Công chức là công dân Việt nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, ngày 25/01/2010, tại Điều 2 quy định những ngƣời là công chức và thông tƣ số 08/2011/TT- BNV, ngày 02/06/2011 hƣớng dẫn một số điều của nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 và theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và viên chức số 52/2019/QH14 của Việt Nam của Chính phủ quy định “ Công chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân 10 sách Nhà nƣớc hoặc đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.[1] Nƣớc CHDCND Lào, sau ngày thống nhất đất nƣớc năm 1975 đã thực hiện chế độ công chức trên phạm vi cả nƣớc theo đó, tất cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp Nhà nƣớc, nông trƣờng, lầm trƣờng và lực lƣợng vũ trang đều đƣợc gọi chung trong một cụm từ “ cán bộ, công nhân viên chức Nhà nƣớc”.
Theo Nghị định số 82/2003/NĐ-CP của Chính phủ nƣợc CHDCND Lào đã đƣa ra khái niệm về công chức: “Công chức nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là ngƣời công dân Lào đƣợc biên chế và bổ nhiệm làm việc thƣờng xuyên trong các cơ quan Trung ƣơng, địa phƣơng hoặc đƣợc ủy nhiệm làm việc ở các cơ quan đại diện nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ở nƣớc ngoài đƣợc hƣởng lƣơng và tiền trợ cấp từ ngân sách Nhà nƣớc” .[2] Chuyển sang thời kỳ đổi mới nƣớc CHDCND Lào, khái niệm về công chức đƣợc quy định theo luật Cán bộ, công chức số 74/QH ngày 18/12/2015 về cán bộ, công chức nƣớc CHDCND Lào. Trong luật chỉ rõ “ Công dân Lào đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong một công sở của Nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách Nhà nƣớc cấp gọi là công chức Nhà nƣớc” .[15] Trƣớc yêu cầu sự nghiệp xây dựng đất nƣớc Lào trong điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ công chức chính quy, hiện đại. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng NDCM Lào trong văn bản ngày 18/01/2016 chỉ rõ. Ở nƣớc CHDCND Lào, sự hình thành đội ngũ cán bộ, công chức có đặc điểm khác các nƣớc.
Cán bộ làm việc trong các cơ quan Nhà nƣớc, Đảng, đoàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Vì vậy, cần có một pháp lệnh có phạm vi điều chỉnh chung đối với cán bộ trong toàn thể hệ thống chính trị bao gồm: công chức nhà nƣớc (trong đó có công chức làm việc ở cơ quan quân đội, an ninh…), cán bộ làm việc chuyên trách ở cơ quan Đảng, đoàn thể. Công chức Lào là “ công dân Lào trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc, bao gồm những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công 11 việc thƣờng xuyên, đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, những ngƣời làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”. Theo luật cán bộ, công chức số 74/QH, ngày 18/12/2015 đã quy định: cán bộ, công chức là công dân Lào trong biên chế bao gồm: - Những ngƣời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, thủ đô, ở tỉnh, ở huyện.
- Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện. - Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong các cơ quan Nhà nƣớc ở Trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện. - Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên chức hoặc giao một nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong các đơn vị sự nghiệp Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Thẩm phán Tòa án nhân dân, kiểm sát viên, viện kiểm sát nhân dân.
- Những ngƣời đƣợc quyền tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp. - Những ngƣời do bầu cử để đảm nhiệm vụ theo nhiệm kỳ trong thƣờng trực, Hội đồng nhân dân, UBND, Bí thƣ, phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội thuộc huyện, thị xã. Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp huyện. Khái niệm cán bộ, công chức đƣợc phân biệt rõ ràng nhƣ: 12 Cán bộ là công dân Lào, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Nhà nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, ở Thủ đô, ở tỉnh, ở huyện, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.