CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH, NƯỚC CHDCND LÀO 1. CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH, NƯỚC CHDCND LÀO 1. Khái niệm công chức Nền hành chính nhà nước nào cũng cấu thành bởi những yếu tố cơ bản là thể chế hành chính nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước, độ ngũ công chức nhà nước. Công chức là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương.
Nhưng do đặc thù của từng quốc gia nên quan niệm công chức ở các nước không hoàn toàn giống nhau. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước. Một số nước có quan niệm rộng hơn, công chức bao gồm những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức có tính chất công quyền. Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975 nước CHDCND Lào đã thực hiện chế độ công chức trên phạm vi cả nước theo đó, tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, nông trường, lâm trường và lực lượng vũ trang đều được gọi chung trong một cụm từ “cán bộ, công nhân viên nhà nước ”.
Chuyển sang thời kỳ đổi mới nước CHDCND Lào, khái niệm công chức được quy định theo Luật Cán bộ, Công chức số 74/QH ngày 18/12/2015 về cán bộ, công chức nước CHDCND Lào. Luật chỉ rõ “Công dân Lào được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay 6 Luan van ngoài nước đã được xếpvào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”.[1] Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước Lào trong điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ công chức chính quy, hiện đại. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng NDCM Lào trong văn bản ngày 18/01/2016 chỉ rõ:Ở nước CHDCND Lào, sự hình thành đội ngũ cán bộ, công chức có đặc điểm khác các nước. Cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước, đảng, đoàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.
Bởi vậy, cần có một pháp lệnh có phạm vi điều chỉnh chung đối với cán bộ trong toàn hệ thống chính trị bao gồm: công chức nhà nước (trong đó có công chức làm việc ở cơ quan quân đội, an ninh…), cán bộ làm việc chuyên trách ở các cơ quan Đảng, đoàn thể. Theo đó, công chức Lào là “công dân Lào trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phần loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự ngiệp, những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”.[3] Theo Luật Cán bộ, công chức số 74/QH, ngày 18/12/2015 đã quy định: cán bộ, công chức là công dân Lào trong biên chế bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, thủ đô, ở tỉnh, ở huyện; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; 7 Luan van - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên làm việc ttrong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Thẩm phán Tòa án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực, Hội động nhân dân, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội thuộc huyện, thị xã; Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp huyện”. Khái niệm cán bộ, công chức được phân biệt rõ ràng như: “Cán bộ là công dân Lào, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng NDCM Lào, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở Thủ đô, ở tỉnh, ở huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.[7] Công chức là công dân Lào được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng NDCM Lào, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ 8 Luan van quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng NDCM Lào, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây goi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.[34] Như vậy, theo quy định pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào “cán bộ”, “công chức” đều dùng để chỉ những người là công dân Lào trong biên chế của các cơ quan nhà nước nói chung. Và tiêu chí để phân định giữa “cán bộ” và “công chức” là dựa vào cơ chế hình thành “cán bộ” được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ, còn “công chức” được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh.
Chính quyền cấp tỉnh Hiến pháp nước CHDCND Lào đã chia hệ thống chính quyền bốn cấp của Nhà nước CHDCND Lào gồm: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp bản. Theo Luật Hành chính địa phương của nước CHDCND Lào (số 03/QH, ngày 21 tháng 10 năm 2003) đã quy định chính quyền địa phương gồm 3 cấp: tỉnh (thành phố), huyện (thị trấn), và bản (làng). [9] Tỉnh được thành lập, giải thể, tách ra, sắp xếp lại và được quy định địa giới do Nghị quyết của Quốc hội theo đề nghị của Chính phủ. Tỉnh được chia ra thành nhiều huyện và thị xã.
[8,9] Thành phố là cấp tương đương cấp tỉnh, là đơn vị hành chính thành thị, đông dân; là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và dịch vụ đóng 9 Luan van vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa của đất nước. Thành phố chia thành quận (đô thị), huyện (nông thôn). [9] Theo luật pháp Lào, trong điều kiện cần thiết có thể xây dựng đặc khu với sự đồng ý của Quốc hội. Đặc khu là cấp ngang với cấp tỉnh.
Như vậy, cấp tỉnh là đơn vị hành chính nhà nước cao nhất của chính quyền địa phương. Tỉnh có chức năng quản lý hành chính nhà nước về mọi mặt chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, trật tự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, …. trên địa bàn tỉnh. Chính quyền cấp tỉnh là cấp thứ hai sau cấp trung ưởng, chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản pháp lý của Bộ, ngành của trung ương, bảo đảm các quy định đó được thực hiện ở địa phương.
Dưới gốc độ quản lý nhà nước, chính quyền cấp tỉnh chịu sự đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra của Chính phủ, của các Bộ, ngành ở trung ương về các lĩnh vực công tác có liên quan, đồng thời chịu trách nhiệm báo cáo trước Chính phủ và các cơ quan Nhà nước cấp trên về tình hình quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực. Chính quyền cấp tỉnh tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động quản lý của các cơ quan, đơn vị thuộc quyền, bảo đảm các cơ quan này được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ các chủ trương quản lý Nhà nước, đảm bảo đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước được triển khai thực hiện ở cơ sở. [6] Chính quyền cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh tế và nhiệm vụ phát triển kinh tế địa phương; tạo điều kiện, khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế phát triển; phát huy mọi nguồn vốn, mọi tiềm năng kinh tế của tỉnh; hướng dẫn cho tất cả các thành phần kinh tế đầu tư, phát triển, sản xuất, tạo việc làm cho người lao động; ổn định và nâng cao đời sông nhân dân; tang nguồn thu cho ngân sách. [9] 10 Luan van Chính quyền cấp tỉnh là cơ quan quản lý trực tiếp toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài sản công và các công trình văn hóa, công trình phúc lợi phục vụ đời sống, sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Chính quyền cấp tỉnh thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước không chỉ đối với các đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh, mà còn có quyền kiểm tra, thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước đối với các đơn vị trung ương đóng trên địa bàn tỉnh. Chính quyền cấp tỉnh có trách nhiệm trong việc phát triển sự nghiệp văn hóa, xã hội và đời sống của nhân dận trong tỉnh. Chính quyền cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; bảo đảm các điện vật chất, chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên phục vụ cho công tác giáo dục và đào tạo.