Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Một nghiên cứu mới đây về động lực nhà giáo ở Châu Á và Tiểu Sahara cho biết: “Các nhà tâm lý học về công việc thường cho rằng bản thân tiền lương không có tác dụng nâng cao động lực. Nhưng xem ra động lực tiền nong chiếm vị trí chủ đạo đối với giáo viên các nước thu nhập thấp, nơi mà tiền lương cùng các lợi ích vật chất khác không đáp ứng nổi nhu cầu sinh tồn của cá nhân và gia đình họ.
Chỉ khi các nhu cầu cơ bản đó được đáp ứng mới có thể nói đến các như cầu bậc cao, tức là các nhu cầu đem lại sự thoả mãn thực sự trong công việc'' [36]. Theo nghiên cứu của Maslow về động lực con người trong mối quan hệ với nhu cầu thì nhu cầu của con người gồm 5 bậc chính, từ thấp đến cao. Bậc thấp nhất là các nhu cầu sinh lý, như ăn, mặc, ở, ngủ, bài tiết, tình dục. Bậc tiếp theo là các nhu cầu an toàn đối với cá nhân, sức khoẻ, việc làm, gia đình, tài sản.
Tiếp nữa là các nhu cầu gắn kết trong quan hệ gia đình, bạn bè, họ hàng. Cao hơn là các nhu cầu quý trọng, bao gồm sự tự trọng, lòng tôn trọng người khác, sự được người khác tôn trọng, niềm tin, sự hoàn tất trong công việc. Cao nhất là các nhu cầu tự hoàn thiện, bao gồm nhu cầu sáng tạo, giải quyết vấn đề, làm gương… Trong tác phẩm “Quản lý nguồn nhân lực”, Paul Hersey & Ken Blanc Hard bàn về vấn đề tạo động lực làm việc [11, tr 22] Các tác giả tập trung nhấn mạnh vai trò của việc tạo động lực làm việc, trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra các ví dụ điển hình giúp nhà quản lý áp dụng và phân tích, tìm hiểu hành vi của người lao động. Business Edger đề cập đến vấn đề động lực làm việc với cuốn sách “Tạo động lực làm việc đâu phải chỉ bằng tiền" Thực tế ở các nước phát triển, các nhu cầu về sinh lý và an toàn đã được giải quyết về cơ bản, vì thế các yếu tố chính tác động tới động lực nhà giáo là việc đáp ứng các nhu cầu bậc cao.
Nhưng ở các nước đang phát triển, tình hình không như vậy; các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn yếu tố chính tác động tới động lực lại là các yếu tố có liên quan đến việc đáp ứng các nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của nhà giáo. Vì thế cần ưu tiên giải quyết thật tốt các yếu tố cơ bản là tiền lương và các loại phụ cấp, nhà ở cùng các điều kiện về điện nước, khối lượng công việc cùng các điều kiện làm việc, sự an toàn đối với cá nhân và gia đình nhà giáo. Các công trình nghiên cứu trong nước - Phạm Đỗ Nhật Tiến (2009), Bài viết “Vị thế nhà giáo và vấn đề tạo động lực cho người dạy”, Báo Khoa học Giáo dục số 45. Trong bài nghiên cứu, tác giả tiếp cận vấn đề tạo động lực cho giáo viên từ hai góc độ: thứ nhất là mối quan hệ giữa động lực với nhu cầu, thứ hai là mối quan hệ giữa động lực với các đặc trưng của nghề dạy học.
Nghiên cứu còn khái quát được mối liên hệ giữa ba yếu tố nhu cầu - động lực - vị thế ngành nghề. Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng để tiếp cận vấn đề tạo động lực lao động cho giáo viên một cách hoàn thiện và hiệu quả. - Vũ Thị Uyên (2008), Luận án tiến sĩ: “Tạo động lực cho lao động quản lý trong các tổ chức Nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.Luận án đã hệ thống hóa các lý luận căn bản và đề xuất quan điểm về động lực lao động; lựa chọn mô hình tổng thể để chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực cho lao động quản lý nói riêng và lao động trong khu vực Nhà nước nói chung. Luận án đã chỉ ra được những ưu điểm và nhược điểm của các biện pháp tạo động lực đang được áp dụng và đưa ra các nguyên nhân còn tồn tại.
Qua đó đưa ra được một số giải pháp tạo động lực cho lao động quản lý. - Lê Văn Chín (2012), Luận án tiến sĩ: “Quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Bến Tre đáp ứng đổi mới giáo dục 2012”, Viện khoa học giáo dục Việt Nam. Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận cơ bản về giáo viên tiểu học. Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo viên tiểu học tại tỉnh Bến Tre, tác giả đã đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học, trong đó có vấn đề tạo động lực và đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Bến Tre nói riêng và đội ngũ giáo viên tiểu học nói chung.
- Lê Đình Lý (2012), Luận án tiến sĩ: “Chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Luận án Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đã đưa ra một quan điểm nữa về chính sách tạo động lực là một hệ thống quan điểm, mục tiêu, giải pháp nhằm thúc đẩy, khuyến khích, động viên người lao động tự giác, hăng say, nỗ lực làm việc. Tác giả đã cho thấy một cách tiếp cận vấn đề tạo động lực mới và khá toàn diện, đưa ra được các bước trong quy trình tạo động lực hoàn chỉnh. Ngoài ra các giải pháp mà luận văn đưa ra cũng có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với vấn đề tạo động lực cho các đối tượng lao động khác cũng làm việc trong khu vực Nhà nước như giáo viên tiểu học.
Ngoài ra, còn có rất nhiều các công trình khác liên quan như: Đào Hải (2005), Luận án tiến sĩ: “ Nghiên cứu quy trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên tiểu học miền núi”, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Lê Thị Ngọc Thúy (2013), Luận án tiến sĩ: “Quản lý nhà trường tiểu học Việt Nam theo tiếp cận văn hóa tổ chức”, Trường đại học Giáo dục; Dương Thị Hoàng Yến (2010), Luận án tiến sĩ: “Trí tuệ, cảm xúc của giáo viên tiểu học”, Viện Tâm lý học,… Các công trình nghiên cứu khoa học trên đây đã đề cập đến vấn đề tạo động lực lao động và tạo động lực lao động cho giáo viên nói chung, đó là những tư liệu tham khảo rất quan trọng xây dựng khung lý thuyết về tạo động lực về dạy học cho GV mà tác giả sẽ kế thừa trong luận văn này. Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu các giải pháp tạo động lực lao động cho giáo viên tiểu học tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các chính sách thực sự có hiệu lực và hiệu quả trong việc tạo động lực người dạy. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Giải pháp Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt nam thì: “Giải pháp có nghĩa là chỉ, vạch ra con đường để đi tới được cái “đích” mình cần đến hay mục tiêu mong đợi. Giải pháp tốt thì đi đến đích nhanh, an toàn, giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong đợi. Giải pháp tạo động lực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Giải pháp tạo động lực là vạch ra những con đường mà thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Quản lý Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định.
Quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: - Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý. - Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động. - Chủ thể phải thực hành việc tác động. - Chủ thể có thể là một người, nhiều người; còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội).
Theo Trần Kiểm: “QL là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người QL, người tổ chức QL) lên khách thể (đối tượng QL) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện phát triển của đối tượng".8] Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “QL là sự tác động có chủ đích của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [8]. - Theo từ điển tiếng Việt do viện ngôn ngữ của nhà xuất bản từ điển Bách khoa, xuất bản năm 2010 [33], quản lý có nghĩa là: + Trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định. Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
Từ phân tích trên cho thấy, khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Những khái niệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn trên về QL khác nhau về cách diễn đạt, nhưng vẫn cho thấy một ý nghĩa chung: QL là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể QL lên đối tượng QL và khách thể QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.