Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại công ty xi măng Nghi Sơn. Chương 3: Giải pháp tạo động lực lao động tại công ty xi măng Nghi Sơn. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm và sự cần thiết tạo động lực lao dộng trong doanh nghiệp 1. Động lực lao động Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhưng tất cả đều có những điểm chung cơ bản nhất. “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó. “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao” [3].
Khi nói về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản trị thường có những điểm chung cơ bản sau đây: Động lực lao động có được không xuất phát từ bất kỳ một sự cưỡng chế, ép buộc nào, không biểu hiện qua lời nói mà qua hành động cụ thể, nó xuất phát từ trong nội tâm của người lao động. Động lực lao động luôn được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Nó có thể thay đổi thường xuyên và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
Có thể kể ra một số nhân tố sau: nhân tố thuộc về bản thân người lao động, các nhân tố thuộc về công việc, các nhân tố thuộc về tổ chức và môi trường làm việc. Các nhân tố này rất phức tạp và đa dạng đòi hỏi người quản lý phải biết kết hợp tối ưu các nhân tố thúc đẩy khả năng, phạm vi nguồn lực của tổ chức để vừa đạt được mục tiêu cá nhân người lao động vừa đạt mục tiêu tổ chức. Trong các tổ chức và doanh nghiệp hiện nay, với quan điểm coi nguồn lao động là nguồn lực. Các nhà quản lý luôn đặt ra câu hỏi, làm thế nào có thể 7 nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, làm sao để người lao động làm việc hăng say, nhiệt tình.
Các tổ chức và doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Điều họ quan tâm là làm sao để những chi phí mình bỏ ra có thể mang lại hiệu quả lớn nhất. Người lao động vừa là tài nguyên của tổ chức đồng thời vừa là một yếu tố rất lớn cấu thành nên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên họ sẽ quan tâm tới việc làm thế nào để người lao động làm việc hăng say, đạt kết quả tốt và làm thế nào để có thể sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức. Như vậy vấn đề được tổ chức quan tâm, xem trọng nhất là tạo động lực cho người lao động.
Tạo động lực lao động “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [3]. Hay “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức” [4]. Các nhà quản lý muốn xây dựng doanh nghiệp, tổ chức mình phát triển vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp nhằm kích thích người lao động hăng say làm việc, phát huy trách nhiệm và tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Đây là vấn đề tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp.
Vấn đề tạo động lực lao động là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Để có thể tạo động lực lao động cho người lao động thì tổ chức phải xem xét sẽ phải đưa ra chính sách nào để thúc đẩy động lực làm việc của người lao động, sẽ phải tạo ra môi trường làm việc, môi trường giao tiếp như thế nào để người lao động cảm thấy thoải mái nhất và có tinh thần làm việc cao nhất.Tuy nhiên không phải tổ chức nào cũng có những giải pháp hoàn hảo cho tất cả những vấn đề này, bởi nguồn lực của mỗi tổ chức không giống 8 nhau. Do đó, tổ chức sẽ phải lựa chọn những vấn đề ưu tiên nhất và có tính khả thi, phù hợp nhất để giải quyết trước trong phạm vi của mình để các quyết định, chính sách. có thể thực hiện được.
Vai trò của tạo động lực Tạo động lực trong tổ chức giúp người lao động cảm thấy sự phấn chấn trong công việc, họ làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình do đó các nhà quản lý cần quan tâm tạo động lực cho người lao động để hướng hành vi của họ theo một chiều hướng quỹ đạo nhất định có lợi cho công ty. Tạo động lực trong tổ chức giúp người lao động xem tổ chức như gia đình thứ hai của họ, giúp họ gắn bó lâu dài với tổ chức hơn. Quá trình tạo động lực cho người lao động Xét về nhu cầu của người lao động, quá trình tạo động lực cho người lao động gồm các bước sau: Nhu Nhu cầu cầu đã chưa Sự Động Hành Giảm được được căng cơ vi tìm sự thỏa thỏa thẳng kiếm căng mãn mãn thẳng Sơ đồ 1.1: Quá trình tạo động lực cho ngƣời lao động Nguồn: Giáo trình Hành vi tổ chức (2013) [3]. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt về vật chất hay tinh thần mà không được đáp ứng hoặc thỏa mãn.Một khi nhu cầu không được thỏa mãn gây ra sự căng thẳng và sự căng thẳng này gây ra động cơ bên trong mỗi cá nhân.
Những động cơ này tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm có thể đạt được các mục tiêu cụ thể. Khi đã đạt được mục tiêu, nhu cầu đã cơ bản được thỏa mãn thì sự căng thẳng sẽ giảm xuống. Sự cần thiết tạo động lực lao dộng trong doanh nghiệp Đối với mỗi doanh nghiệp mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất chính là hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để thực hiện được mục tiêu đó thì yếu tố con người đóng vai trò quyết định.
Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến những giải pháp nhằm động viên, khuyến khích người lao động để họ mang hết khả năng ra làm việc, giữ chân họ ở lại doanh nghiệp lâu dài, ổn định. Khi người lao động tích cực làm việc sẽ tăng hiệu quả lao động, nâng cao năng suất, tăng doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức, doanh nghiệp. Tạo động lực lao động chính là biện pháp sử dụng người lao động hiệu quả nhất nhằm nâng cao năng suất lao động của các tổ chức, doanh nghiệp. Khi một tổ chức, doanh nghiệp tạo động lực tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí về lao động và thu hút những lao động có trình độ tay nghề cao.
Ngoài ra tạo động lực còn góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh của tổ chức, doanh nghiệp. Nó xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa những người lao động với nhau, giữa người lao động với tổ chức, doanh nghiệp qua đó góp phần xây dựng văn hóa tổ chức được lành mạnh. Các học thuyết tạo động lực lao động 1. Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Năm 1943, Nhà tâm lý học người Hoa Kỳ - Abraham Maslow đã đưa ra quan điểm về nhu cầu của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau từ thấp đến cao.
Theo đó, những nhu cầu ở mức độ thấp sẽ phải được thỏa mãn trước khi xuất hiện các nhu cầu ở mức độ cao hơn. Cấu trúc Tháp nhu cầu Maslow có 5 tầng, trong đó những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp. Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp (nhu cầu bậc thấp) phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu phía trên đỉnh tháp (nhu cầu bậc cao). Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu bậc thấp đã được đáp ứng đầy đủ.
5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow: 10 Sơ đồ 1.2: Hệ thống các nhu cầu của Maslow (Nguồn:http://www. Tầng 1– Nhu cầu sinh lý (Physiological): Nhu cầu này bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người tồn tại. Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất.
Tức là các nhu cầu ở mức độ cao hơn không xuất hiện nếu nhu cầu cơ bản này chưa được thỏa mãn. Tầng 2– Nhu cầu về an toàn, an ninh (Safety): Con người cần sự bảo vệ, an toàn trước những sự đe dọa, mối nguy hiểm về vật chất hay tinh thần. Tầng 3– Nhu cầu về xã hội (Belonging): Đây là một nhu cầu về tinh thần. Khi con người mong muốn được gắn bó với tổ chức hay một phần trong tổ chức nào đó hay mong muốn về tình cảm thì ấy chính là nhu cầu xã hội.
Đó là mối quan hệ trong gia đình, trường lớp, công ty, bạn bè hay một cộng đồng. Tầng 4– Nhu cầu được quý trọng (Esteem): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu thừa nhận. Đây là nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng trong tổ chức, xã hội. Tầng 5– Nhu cầu được thể hiện mình (Self-actualization): Đây là nhu cầu đỉnh của thang Maslow, nhu cầu được thể hiện bản thân, được khẳng định mình trong cuộc sống hay sống và làm việc theo đam mê và cống hiến hết mình cho nhân loại hay một cộng đồng.
11 Theo Maslow thì khi mỗi một nhu cầu trong số những nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có một nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn nhưng nếu một nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì về cơ bản nó sẽ không còn tạo động lực cho con người nữa.Vì thế theo Maslow để tạo động lực cho nhân viên người quản trị cần tìm hiểu xem nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống nhu cầu này và hướng sự thỏa mãn vào các nhu cầu có thứ bậc cao hơn. Học thuyết công bằng (J.