Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng các biện pháp tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH dịch vụ kho vận ALS. Chương 3: Giải pháp tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH dịch vụ kho vận ALS. 9 Chƣơng CƠ SỞ L LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm vai trò và lợi ích của tạo động lực cho ngƣời lao động 1. Khái niệm động lực Theo Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau [22]: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng + Động lực. Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Điều đó có thể lý giải tại sao một người bắt đầu làm việc trong tổ chức có trình độ cao nhưng kết quả thực hiện công việc lại thấp hơn kì vọng của tổ chức là do người đó đã không có động lực làm việc.
Cùng với quá trình phát triển của tổ chức đòi hỏi mỗi thành viên trong đó phải nỗ lực không ngừng để nâng cao trình dộ đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức. Quá trình đào tạo có tác động rất lớn đến việc nâng cao khả năng của cá nhân, khi người đó có động lực càng cao thì càng muốn học tập để phát triển bản thân và khi khả năng tăng cũng đồng nghĩa với việc tăng động lực làm việc. Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân, nhằm phát huy mọi nỗ lực để đạt được mục tiêu của bản thân và mục tiêu của tổ chức. Theo Bedeian (1993) [15], động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu.
Tác giả Vũ Thị Uyên (2006) [13] cho rằng “Qua mỗi quá trình lao động sẽ tạo ra một kết quả thực hiện công việc nhất định” và “động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức”. Tác giả Bùi Anh Tuấn [11] viết về động lực làm việc trong giáo trình “Hành vi tổ chức” như sau: "Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động". Tuy mỗi khái niệm trên có khác nhau tuy nhiên đều thể hiện bản chất của động lực.
Ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết nào đó.” 10 Khi người lao động có động lực làm việc sẽ tự giác dồn hết khả năng để thực hiện được công việc sao cho hiệu quả, góp phần giúp tổ chức đạt được mục tiêu lao động. Trên thực tế, lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với động lực làm việc, nhưng lợi ích cá nhân và lợi ích của tập thể lại luôn xảy ra những mặt mâu thuẫn. Khái niệm tạo động lực Động lực lao động có được không phát sinh từ những mệnh lệnh hành chính, nó không biểu hiện qua lời nói mà xuất phát từ những hành động cụ thể xuất phát từ nội tâm người lao động. Có thể hiểu tạo động lực chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân người lao động.
Dó đó, tạo động lực được hiểu như sau: “Tạo động lực cho người lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức. Tuy nhiên, có thể định nghĩa cụ thể như sau: “Tạo động lực là quá trình mà tổ chức đưa ra một hệ thống các biện pháp, chính sách, phương pháp và thủ thuật quản lý nhằm vàongười lao độngđể họ hiểu và yêu công việc họ phải làm, giúp họ hiểu và yêu tổ chức mình hơn qua đó nâng cao chất lượng công việc, hiệu quả làm việc và nâng cao năng suất lao động của cá nhân người lao độngvà của tổ chức nhờ đó hoàn thành mục tiêu cá nhân và tổ chức đặt ra”. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn – Giáo trình Hành vi tổ chức thì: Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, các biện pháp, các thủ thuật mà nhà quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc [11]. Quá trình tạo động lực cần diễn ra liên tục, đòi hỏi nhiều công sức, khá tốn kém, phải có sự nghiên cứu tỷ mỉ và cần có sự điều chỉnh và không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng nên thường ít được quan tâm trong thực tế nhất là tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Tuy nhiên thực tế và thời đại ngày nay chứng minh rằng tạo động lực cho người lao động là xu thế tất yếu buộc các tổ chức và doanh nghiệp cần phải quan tâm bởi vì lợi ích to lớn mà quá trình đó đem lại, hơn nữa ngày nay con người phải làm một khối lượng công việc ngày càng phức tạp và căng thẳng thần kinh dể dẫn đến sự mệt mỏi tinh thần cảm giác, sự nhàm chán trong công việc.
Vai trò của tạo động lực Thực tế và thời đại ngày nay chứng minh rằng tạo động lực cho người lao động là xu thế tất yếu buộc các tổ chức và doanh nghiệp cần phải quan tâm bởi vì lợi ích to lớn mà quá trình đó đem lại, hơn nữa ngày nay con người phải làm một khối lượng công việc ngày càng phức tạp và căng thẳng thần kinh dể dẫn đến sự mệt mỏi tinh thần cảm giác, sự nhàm chán trong công việc. Bởi vậy, tạo động lực là 11 hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý. Hiểu và áp dụng tốt các hoạt động tạo động lực cho người lao động đôi khi mang lại những hiệu quả lớn và bền vững hơn việc đầu tư tiền bạc vào việc bổ sung đầu tư cơ sở hạ tầng hay công nghệ. Tạo động lực cho người lao động mang lại lợi ích trực tiếp đối với doanh nghiệp, tổ chức và người lao động: Đối với doanh nghiệp Tạo động lực phù hợp giúp cho việc sử dụng tốt nguồn nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp.
Phát huy tối đa khả năng, năng lực của người lao động trong công ty. Từ đó, nâng cao được hiệu quả, năng suất sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp sớm đạt được các mục tiêu, tầm nhìn đã đề ra. Tạo động lực giúp củng cố mối quan hệ giữa nhà quản trị và người lao động. Khi nhà quản trị đã quan tâm đến vấn đề tạo động lực cho người lao động thì chính là quan tâm đến đời sống, tinh thần của người lao động giúp họ yên tâm công tác tại doanh nghiệp, có niềm tin vào tổ chức.
Hai bên sẽ có sự tương tác, trao đổi để từ đó, dung hòa được nhu cầu của người lao động với mục tiêu, nhiệm vu của tổ chức. Bên cạnh đó, tạo động lực sẽ tạo ra bầu không khí làm việc hăng say, thoải mái, góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nâng cao hình ảnh, uy tín công ty. Hình thành lên tài sản quý giá của công ty là đội ngũ lao động giỏi, có tay nghề, tâm huyết, gắn bó với tổ chức, đồng thời thu hút được nhiều người tài về làm việc tại tổ chức. Tạo động lực phù hợp hỗ trợ công ty trong công tác tuyển dụng, bố trí và sắp xếp nhân lực đạt hiệu quả cao.
Trong doanh nghiệp, nếu có sự đoàn kết giữa các nhân viên, thì công tác quản lý trong doanh nghiệp cũng được thực hiện nhanh hơn, mọi người có ý thức thực hiện các quy định mà không cần giám sát, kiểm tra. Góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp, môi trường làm việc tốt hơn. Đối với ngƣời lao động Quá trình tạo động lực giúp cho người lao động cảm thấy mình là nhân viên được lãnh đạo quan tâm. Từ đó, họ hăng say, nỗ lực làm tốt công việc được giao hơn.
Và họ không ngừng nâng cao trình độ, hoàn thiện bản thân để đáp ứng tốt nhu cầu mà doanh nghiệp cần. Điều đó góp phần giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển vững mạnh. Tạo động lực cho người lao động giúp họ tự tin, thoải mái, tạo được sự liên kết, có phản hồi với điều đang làm, hạn chế sai phạm và lãng phí trong quá trình sản xuất, làm tăng năng suất cá nhân của người lao động. Lợi ích của các biện pháp tạo động lực Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực thì người lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say, kết quả là năng suất lao động 12 cá nhân được nâng cao rõ rệt.
Năng suất tăng lên dẫn tới tiền lương cũng được nâng cao hơn trước và nâng cao thu nhập cho người lao động Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thường được phát huy khi con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó. Tăng sự gắn bó với công việc và công ty hiên tại: khi đã cảm thấy yêu thích và cảm nhận được sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình. Thêm một lợi ích nữa đối với người lao động đó là khi công việc được tiến hành thuận lợi thì họ sẽ thấy được công sức mình bỏ ra là có ích và đạt được hiệu quả cao. Điều đó tạo cho họ cảm thấy có ý nghĩa trong công việc, cảm thấy mình quan trọng và có ích và từ đó không ngừng hoàn thiện bản thân mình hơn nữa.
Một số học thuyết về tạo động lực 1. Học thuyết hai yếu tố của F.Herzberg đã phát triển thuyết động viên của ông bằng cách đề nghị các chuyên gia làm việc trong các xí nghiệp công nghiệp liệt kê các nhân tố làm họ thỏa mãn và các nhân tố làm cho họ được động viên cao độ. Đồng thời yêu cầu họ liệt kê các trường hợp (nhân tố) mà họ không được động viên và bất mãn. Phát hiện của F.Herzberg đã tạo ra một sự ngạc nhiên lớn vì nó làm đảo lộn nhận thức thông thường của chúng ta.
Chúng ta thường cho rằng đối ngược với thỏa mãn là bất mãn và ngược lại.