CHƯƠNG 1: KINH DOANH VIỄN THÔNG 1. Khái niệm và bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh viễn thông hoạt động kinh doanh Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và doanh nghiệp không Hiệu quả hoạt động SXKD luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ. Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng. “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.
d những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Từ các khái niệm trên có thể khái quát quan niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh viễn thông như sau: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp viễn thông nhằm đạt được kết quả của mục tiêu hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông”. 4 iễn thông - Về thời gian hiệu quả đạt được trong từng giai đoạn, từng thời kỳ không được làm giảm sút hiệu quả các giai đoạn, các thời kỳ tiếp theo.
Không vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. - Về không gian hiệu quả chỉ có thể coi là đạt được một cách toàn diện khi toàn bộ hoạt động mang lại hiệu quả và không ảnh hưởng đến hiệu quả chung. - Về định lượng, hiệu quả phải được thể hiện mối tương quan giữa lợi ích và chi phí sản xuất kinh doanh viễn thông. - Về góc độ nền kinh tế quốc dân hiệu quả kinh doanh của viễn thông phải gắn chặt với hiệu quả toàn xã hội, đạt hiệu quả cho viễn thông còn chưa đủ, mà còn mang lại hiệu quả cho toàn bộ xã hội, cả kinh tế và xã hội.
Ngoài ra đánh giá hiệu quả còn phải đảm bảo sự thống nhất giữa chính trị và kinh tế, phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh doanh viễn thông với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh doanh xã hội Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả sản xuất kinh doanh thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Biểu hiện chung của hiệu quả cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được. Hiệu quả kinh doanh xã hội mà ngành viễn thông đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của hoạt động kinh doanh viễn thông vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách.
Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trường và thị trường của nó. Doanh nghiệp cần căn cứ vào thị trường để giải quyết những vấn đề then chốt: sản xuất và kinh doanh cái gì, sản xuất kinh doanh như thế nào, sản xuất kinh doanh cho ai và với chi phí bao nhiêu? Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong những điều kiện cụ thể về tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh. Họ đưa ra thị trường sản phẩm - dịch vụ của mình đối với một chi phí cá biệt nhất định và người nào cũng muốn được tiêu thụ hàng hoá của mình với giá cao nhất. Tuy vậy, 5 khi đưa hàng hoá của mình ra bán trên thị trường, họ chỉ có thể bán theo mức giá của thị trường, nếu sản phẩm của họ có mức giá tương đương.
Bởi vì thị trường chỉ chấp nhận mức trung bình của xã hội cần thiết về hao phí để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá - dịch vụ. Qui luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua một mức giá cả của thị trường. Suy cho cùng chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội. Nhưng tại mỗi một doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả thì chi phí lao động xã hội đó lại được thể hiện ở các dạng chi phí cụ thể.
Bản thân mỗi loại chi phí trên có thể được phân chia chi tiết, tỉ mỉ hơn. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chi phí trên nhưng cũng cần thiết đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra. Xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một nhiệm vụ hoạt động kinh doanh nào đó, để biết được với những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không.
Vì vậy trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi bỏ ra chi phí dù một lượng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối. Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau. Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án. Mục đích chủ yếu của việc tính toán là so sánh mức độ hiệu quả của các phương án (hoặc cách làm khác nhau cùng thực hiện nhiệm vụ) do đó cho phép lựa chọn một cách làm có hiệu quả cao nhất.
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Đánh giá, phân tích hiệu quả kinh doanh là òi hỏi bức thiết đối với các bộ phận cũng như doanh nghiệp nhằm khai thác tiềm năng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở phân tích, đánh giá, tăng cường tích luỹ để đầu tư tái kinh doanh cả chiều sâu lẫn chiều rộng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 6 Để phân tích, đánh giá chính xác và có cơ sở khoa học, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu chi tiết và vận dụng phương pháp thích hợp. Chi phí đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động và vốn kinh doanh (vốn cố định và vốn lưu độ ết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như khối lượng sản phẩm (tính bằng hiện vật và giá trị) và lợi nhuậ Chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp có thể được tính theo 2 cách.
- Tính theo dạng hiệu số: Với cách này hiệu quả kinh doanh được tính bằng cách lấy kết quả đầu ra trừ đi toàn bộ chi phí đầu vào. Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu vào Cách tính này đơn giản, thuận lợi, nhưng không phản ánh hết chất lượng kinh doanh cũng như tiềm năng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra nếu theo cách tính này không thể so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp, không thấy được tiết kiệm hay lãng phí lao động xă hội. - Cách tính theo dạng phân số: Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Chi phí đầu vào Cách tính này đã khắc phục được những tồn tại khi tính theo dạng hiệu số.
Nó đã tạo điều kiện nghiên cứu hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện. Hệ thống các chỉ tiêu chi tiết Hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ với tất cả các yếu tố của quá trình kinh doanh (lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động) vì vậy chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Chính vì vậy khi phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoài chỉ tiêu tổng hợp còn phải sử dụng hệ thống chỉ tiêu chi tiết. Các chỉ tiêu chi tiết bao gồm: 1.
Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề then chốt gắn liền đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Viễn thông nói riêng. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý vốn, chất lượng công tác sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đề ra biện pháp nhằm 7 nâng cao hơn nữa kết quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Như vậy việc nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa là tiền đề lý luận cho các nghiên cứu hiệu quả về sau. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh khả năng tạo ra kết quả hoạt động kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) từ việc sử dụng các loại vốn, tài sản của doanh nghiệp(tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, vốn chủ sở hữu,.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và tài sản người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: 1. Hiệu suất sử dụng tài sản ( vòng quay tài sản) Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản bình quân sử dụng trong kỳ mang lại bao nhiêu đồng doanh thu. Công thức xác định như sau: Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản = ----------------------------- Tổng tài sản bình quân 2. Sức sinh lời của tài sản Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư.
Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập sau thuế hoặc thu nhập trước thuế và lãi vay để so sánh với tổng tài sản.