ĐẶT VẤN ĐỀ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích gieo trồng lúa chiếm 56% sản lượng lúa của cả nước. Hàng năm, ngành hàng lúa gạo ĐBSCL xuất khẩu từ 6-7 triệu tấn, chiếm đến 95% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước (Cục Trồng trọt, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2014). Nhờ vào lợi thế của điều kiện tự nhiên thích hợp nên cây lúa vùng ĐBSCL ngày càng phát triển về năng suất và sản lượng, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đảm bảo sản lượng gạo xuất khẩu ra thị trường thế giới. An Giang, tỉnh đầu nguồn nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên, có thế mạnh về sản xuất lúa.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2011- 2014, An Giang là tỉnh có sản lượng lúa đứng thứ nhì trong vùng (sau Kiên Giang) và đứng thứ nhất về năng suất. Năm 2014, An Giang có diện tích trồng lúa là 626 ngàn ha, sản lượng lúa đạt 4,048 triệu tấn với năng suất trung bình 6,47 tấn/ha. Ngoài ra, từ năm 2011 đến nay, An Giang là một trong những tỉnh tiên phong trong hoạt động sản xuất lúa theo mô hình liên kết “Cánh đồng lớn” với quy mô tăng dần theo từng năm. Trong năm 2014, An Giang đã xuất khẩu được 540 ngàn tấn gạo, tương đương 240 triệu USD.
Có thể nói, những kết quả đạt được về mặt kinh tế như trên của ngành hàng lúa gạo đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh từ 7,1% vào năm 2012 xuống 3,6% trong năm 2014. Vì thế, phát triển kinh tế bền vững song hành với nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân, nhất là nông dân nghèo là những chính sách đã và đang được chính quyền các cấp quan tâm và tập trung mọi nguồn lực thực hiện. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy chuỗi giá trị gạo ĐBSCL trong thời gian qua tồn tại một số điểm yếu như: hoạt động chuỗi còn qua rất nhiều khâu trung gian, quản lý chuỗi cung ứng kém hiệu quả, giá trị gia tăng của toàn ngành hàng thấp, đời sống nông hộ trồng lúa chưa được cải thiện (Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son, 2011). Bên cạnh đó, do sản xuất nhỏ, manh 1 mún, không có kế hoạch chung, bán qua nhiều tác nhân trung gian trong chuỗi ngành hàng nên nông dân chịu rủi ro và tổn thương lớn trong chuỗi ngành hàng lúa gạo (Võ Thị Thanh Lộc và Lê Nguyễn Đoan Khôi, 2011).
Từ đó, nông dân mất dần động lực sản xuất do thu nhập thấp, gần với ngưỡng nghèo (Đào Thế Anh và Thái Văn Tình, 2015). Ngoài ra, sản lượng lúa không ngừng tăng lên qua các năm còn là nguy cơ khiến đất trồng bị thoái hóa, ô nhiễm môi trường tăng cao (Nguyễn Đức Thành và cộng sự, 2015) cũng như năng suất tăng nhưng lợi nhuận của người nông dân càng giảm vì giá bán không ổn định và chi phí sản xuất cao (Lê Cảnh Dũng và Võ Văn Tuấn, 2014). Tương tự chuỗi giá trị gạo tại tỉnh An Giang, một địa phương có hơn 70% dân số tham gia trồng lúa, có gặp phải những khó khăn chung nêu trên hay không? Chuỗi giá trị gạo của tỉnh đã tạo được giá trị gia tăng là bao nhiêu? Có sự khác biệt hay không về giá trị gia tăng được tạo ra giữa các nhóm nông hộ trồng lúa? Làm sao nâng cao giá trị gia tăng của toàn chuỗi từ đó góp phần cải thiện thu nhập cho nông hộ trồng lúa, đặc biệt là nông hộ nghèo ở tỉnh An Giang để phù hợp với chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển ổn định bền vững hiện nay? Đó chính là những vấn đề cần được nghiên cứu trong đề tài “Giải pháp nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm lúa gạo góp phần nâng cao thu nhập cho nông hộ nghèo trồng lúa ở tỉnh An Giang”.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Mục tiêu nghiên cứu chung của luận án nhằm phân tích giá trị gia tăng và sự ảnh hưởng của giá trị gia tăng đến thu nhập của nông hộ nghèo trồng lúa, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao giá trị gia tăng của chuỗi và cải thiện thu nhập cho nông hộ nghèo khi tham gia sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh An Giang.2 Mục tiêu cụ thể Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án cần được giải quyết như sau: Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng sản xuất lúa, chế biến và tiêu thụ gạo trên địa bàn tỉnh An Giang; Mục tiêu 2: Phân tích giá trị gia tăng và phân phối giá trị gia tăng giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị gạo; Mục tiêu 3: Phân tích mức độ đóng góp từ giá trị gia tăng được phân phối đến thu nhập của nông hộ nghèo trồng lúa; 2 Mục tiêu 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm gạo, từ đó nâng cao thu nhập cho nông dân nghèo trồng lúa trên địa bàn tỉnh An Giang trong thời gian sắp tới.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.1 Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi 1: Tình hình sản xuất lúa tại An Giang trong giai đoạn 2011- 2014 như thế nào? Thực trạng hoạt động chế biến và tiêu thụ gạo của tỉnh An Giang ra sao? Câu hỏi 2: Trong thời gian qua, chuỗi giá trị gạo ở An Giang đã hoạt động như thế nào? Giá trị gia tăng của toàn chuỗi và của mỗi thành viên tham gia trong chuỗi giá trị được tạo ra là bao nhiêu? Câu hỏi 3: Thu nhập từ trồng lúa của nông hộ chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố nào? Giá trị gia tăng được phân phối có ảnh hưởng đến thu nhập của các nhóm nông hộ trồng lúa ở tỉnh An Giang không? Câu hỏi 4: Cần đề xuất những giải pháp và khuyến nghị gì để góp phần nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gạo và cải thiện thu nhập cho nông hộ nghèo trồng lúa trên địa bàn tỉnh An Giang? 1.2 Các giả thuyết nghiên cứu Luận án sẽ kiểm định các giả thuyết sau: Giả thuyết 1: Phân phối giá trị gia tăng có sự khác nhau lớn giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị gạo từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Giả thuyết 2: Giá trị gia tăng của sản phẩm gạo có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ nghèo trồng lúa.4 PHẠM VI GIỚI HẠN CỦA LUẬN ÁN 1.1 Phạm vi về đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là chuỗi giá trị gạo tỉnh An Giang, giá trị gia tăng được mỗi tác nhân tham gia chuỗi giá trị gạo tạo ra và giá trị gia tăng thuần được phân phối cho mỗi tác nhân, đặc biệt đối với các nông hộ nghèo trồng lúa tại địa bàn nghiên cứu.
Do đó, các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gạo góp phần nâng cao thu nhập cho nông hộ nghèo trồng lúa cũng là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án. Nông dân trồng lúa vùng ĐBSCL đã thâm canh rất cao, 3 vụ lúa/ năm (Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT, 2014). Luận án chỉ nghiên cứu chuỗi giá trị gạo tỉnh An Giang tại thời điểm vụ Đông Xuân, do: Thứ nhất, đây là vụ chính 3 nên tất cả nông dân đều sản xuất, trong khi hai vụ lúa còn lại (Hè Thu và Thu Đông) không phải nông hộ nào cũng canh tác (Mai Văn Nam, 2014). Thứ hai, vụ Đông Xuân cung cấp khoảng 50% tổng sản lượng lúa trong năm của ĐBSCL (Nguyễn Đức Thành và cộng sự, 2015).
Thứ ba, điều kiện tự nhiên khi sản xuất vụ lúa Đông Xuân từ tháng 10 đến tháng 1 âm lịch thuận lợi nhất trong năm (Vũ Anh Pháp và cộng sự, 2015) nên vừa đạt năng suất cao hơn vừa hạn chế những khoản chi phí sản xuất phát sinh cao do bị ảnh hưởng thời tiết so với các vụ lúa còn lại. Sản xuất lúa là một hoạt động chịu ảnh hưởng rất nhiều của các yếu tố tự nhiên (thời tiết, dịch bệnh, thổ nhưỡng, lũ lụt). Đây là những yếu tố khách quan nằm ngoài khả năng kiểm soát của nông hộ và là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người trồng lúa nên trong quá trình phân tích chuỗi giá trị, giá trị gia tăng của sản phẩm gạo, thu nhập của nông hộ, luận án không đề cập đến các yếu tố này. Ngoài ra, một hạn chế nữa của luận án là không nghiên cứu sản phẩm phụ trong chuỗi giá trị gạo.
Đối với bộ công cụ phân tích chuỗi giá trị, luận án chỉ tập trung vào các công cụ 2 (vẽ sơ đồ chuỗi giá trị), công cụ 3 (phân tích kinh tế chuỗi giá trị) và công cụ 5 (phân tích rủi ro). Đây là những công cụ quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị gạo tỉnh An Giang. Ngoài ra, luận án cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích chuỗi giá trị gạo đến tác nhân là công ty xuất khẩu Việt Nam mà không tiếp tục phân tích chuỗi giá trị ở thị trường quốc tế.2 Phạm vi đối tƣợng khảo sát Đối tượng khảo sát chủ yếu của luận án là các nông hộ trồng lúa (bao gồm nông hộ nghèo, nông hộ không nghèo), thương lái, đại lý gạo, các nhà máy xay xát, công ty lương thực và xuất khẩu: Vì đây là các tác nhân chính tạo ra giá trị gia tăng cho chuỗi giá trị gạo tỉnh An Giang và vùng ĐBSCL. Các tác nhân này có mối liên kết, tác động lẫn nhau trong quá trình hoạt động.
Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu các dịch vụ hỗ trợ như các nhà sản xuất giống; các đại lý vật tư nông nghiệp. Luận án không khảo sát người tiêu dùng cuối cùng tại thị trường nội địa, không nghiên cứu thị trường nước ngoài. Do giới hạn về thời gian, kinh phí, nguồn lực nên luận án chỉ thực hiện nghiên cứu mẫu thay vì nghiên cứu tổng thể.