CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ MÂY TRE LÁ 1.1 - Cơ sở lý luận để đẩy mạnh xuất khẩu hàng mây tre lá: Cơ sở lý luận về một số học thuyết kinh tế sẽ giúp ta thấy được lợi ích của thương mại quốc tế nhằm làm tiền đề cho thấy sự cần thiết phải đNy mạnh xuất khNu hàng TCMN mây tre lá và làm nền tảng lý thuyết để xây dựng các giải pháp nhằm đNy mạnh xuất khNu hàng mây tre lá của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bình Dương nói riêng.1 - Cơ sở lý luận về các học thuyết kinh tế: 1.1 - Thuyết trọng thương: Thuyết trọng thương ra đời và phát triển mạnh ở Châu Âu, mạnh mẽ nhất là ở Anh và Pháp từ giữa thế kỷ 15, 16, 17 và kết thúc thời kỳ hoàng kim của mình vào giữa thế kỷ thứ 18. Theo thuyết trọng thương thì một quốc gia càng có nhiều tiền tệ (vàng) thì càng giàu có, vì vậy mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ. Muốn gia tăng khối lượng tiền tệ của một nước thì con đường chủ yếu là phải phát triển ngoại thương, tức là phát triển buôn bán với nước ngoài và nhấn mạnh rằng phải thực hiện chính sách xuất siêu trong hoạt động ngoại thương. Thuyết này cho rằng hoạt động ngoại thương là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không, tức là trong trao đổi giữa hai quốc gia phải có một bên lợi và một bên chịu thiệt hại tương ứng, hay nói cách khác quốc gia này làm giàu dựa trên sự hy sinh của quốc gia khác.
Và đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều khiển kinh tế thông qua các chính sách bảo hộ mậu dịch nhằm đạt được và duy trì hiện tượng xuất siêu trong thương mại quốc tế. 2 Thuyết trọng thương đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của thương mại quốc tế. Vận dụng học thuyết này, ta thấy muốn phát triển ngành mây tre lá Bình Dương thì cần phải đẩy mạnh xuất khẩu, vì đây là mặt hàng mà thị trường nước ngoài rất ưa chuộng, xuất khẩu mặt hàng này không những tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, mà còn thu ngoại tệ về cho đất nước. Nhưng để xuất khẩu được mặt hàng này bền vững và hiệu quả, thì bên cạnh sự nỗ lực của các doanh nghiệp, cũng cần phải có sự hỗ trợ của chính quyền và các cơ quan chức năng của Tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi và có những chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này.2 - Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Adam Smith (1723 - 1790) là nhà kinh tế học cổ điển người Anh.
Ông có nhiều tác phNm về kinh tế, nổi tiếng nhất là tác phNm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776, nhờ tác phNm này mà ông được suy tôn là “Cha đẻ của kinh tế học”, trong tác phNm này ông đã khẳng định “Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những qui định chặt chẽ mà do tự do kinh doanh”, ông ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế và đề cao tự do cạnh tranh. Theo Adam Smith, mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất, xuất khNu những mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối và nhập khNu những mặt hàng mà mình không có lợi thế tuyệt đối thì sẽ có lợi. Nghĩa là sử dụng những lợi thế tuyệt đối sẽ cho phép quốc gia đó sản xuất sản phNm với chi phí sản xuất thấp hơn các nước khác, chẳng hạn như: tài nguyên nhiều, dễ khai thác, lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, khí hậu ôn hòa… Thương mại không phải là trò chơi có tổng lợi ích bằng không, mà đây là quy luật trò chơi tích cực, theo đó các quốc gia đều có lợi trong thương mại quốc tế. Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith giúp chúng ta nhận thấy rằng nên đẩy mạnh xuất khẩu hàng mây tre lá, vì đây là ngành hàng mà Bình Dương có nhiều lợi thế để phát triển như gần nguồn cung ứng nguyên liệu mà nguồn nguyên liệu mây tre lá thì rất dồi dào ở Việt Nam, lực lượng lao động thì nhiều, 3 chi phí nhân công tương đối thấp, lại tận dụng được lao động phổ thông, do đó nên tập trung phát triển ngành hàng này để xuất khẩu thu ngoại tệ về cho đất nước và góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam.3 - Học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo: David Ricardo (1772 - 1823) là nhà duy vật, nhà kinh tế học người Anh.Mác đánh giá là người “đạt tới đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển”, tác phNm nổi tiếng nhất của ông là “Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế”.
Theo ông, các quốc gia có thể chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khNu những sản phNm mà họ không có lợi thế tuyệt đối so với nước khác, nhưng lại có lợi thế tuyệt đối lớn hơn giữa hai sản phNm trong nước, tức là sản phNm đó có lợi thế so sánh hay lợi thế tương đối và nhập khNu những sản phNm mà họ không có lợi thế so sánh thì tất cả quốc gia đều có lợi. Lợi thế so sánh ở đây là dựa vào trình độ phát triển của yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia, chẳng hạn như: trình độ nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật… và lợi thế so sánh không phải là bất di bất dịch, mà nó sẽ thay đổi tùy thuộc vào thời gian và trình độ phát triển của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Học thuyết này cho chúng ta thấy về lâu dài thì tài nguyên thiên nhiên, chi phí lao động rẻ không còn là lợi thế cạnh tranh nữa, mà thay vào đó là tri thức, công nghệ sẽ trở thành yếu tố quyết định sự thành công trên thị trường. Vận dụng học thuyết này, tác giả nhận thấy rằng để đẩy mạnh xuất khẩu hàng mây tre lá thì bên cạnh việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, còn phải không ngừng cải tiến đầu tư trang thiết bị công nghệ (như lò sấy, máy hút ẩm), mở rộng quy mô, nâng cao tay nghề, trình độ nghiệp vụ, quản lý, cải tiến mẫu mã… nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Mặc dù xuất khẩu mặt hàng này không đem lại kim ngạch cao như các ngành may mặc, da giày… nhưng giá trị thực thu lại cao, do sử dụng chủ yếu nguyên liệu trong nước. 4 Trên là điển hình một số học thuyết thương mại quốc tế được trình bày nhằm làm tiền đề cho thấy sự cần thiết phải đNy mạnh xuất khNu hàng mây tre lá và làm nền tảng lý thuyết cho việc xây dựng các giải pháp.2 - Cơ sở lý luận về lợi thế cạnh tranh: 1.1 - Quan điểm về lợi thế cạnh tranh: Quan điểm của Michael Porter: Quan điểm về lợi thế cạnh tranh trước hết có thể xuất phát từ một quan điểm rất đơn giản: một khách hàng sẽ mua một sản phNm hoặc một dịch vụ nào đó của xí nghiệp chỉ vì sản phNm, dịch vụ đó giá rẻ hơn nhưng có cùng chất lượng, hoặc giá đắt hơn nhưng chất lượng cao hơn so với sản phNm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. Và ngay khái niệm “chất lượng” (quality) ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, nó có thể là dịch vụ kèm theo sản phNm hoặc “giá trị” (value) của sản phNm mà người tiêu dùng có thể tìm thấy ở chính sản phNm và không thấy ở sản phNm cạnh tranh. Theo Michael Porter “Lợi thế cạnh tranh về cơ bản xuất phát từ giá trị mà một xí nghiệp có thể tạo ra cho người mua và giá trị đó vượt quá phí tổn của xí nghiệp” theo quan điểm của Ông, cái mà xí nghiệp tạo ra lớn hơn chi phí xí nghiệp bỏ ra và khách hàng đã tìm thấy lợi khi quyết định chọn mua sản phNm của xí nghiệp, đó là lợi thế cạnh tranh mà xí nghiệp biết tận dụng và đã đạt được mục đích.
Việc tạo ra lợi thế cạnh tranh tùy thuộc vào phạm vi cạnh tranh hoặc trên toàn bộ thị trường. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp cần xác định lợi thế của mình mới có thể giành được thắng lợi, có hai nhóm lợi thế cạnh tranh: + Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phNm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh, các yếu tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem là nguồn lực để tạo ra lợi thế cạnh tranh. + Lợi thế về sự khác biệt: dựa vào sự khác biệt của sản phNm làm tăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phNm hoặc nâng cao tính hoàn 5 thiện khi sử dụng sản phNm. Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ.
Lợi thế cạnh tranh được tạo ra từ hai nguồn: năng lực cạnh tranh và môi trường bên ngoài. Năng lực cạnh tranh mạnh hay yếu tác động trực tiếp lợi thế cạnh tranh, tác động đó mang tính chủ quan của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh xuất phát từ những yếu tố, những lĩnh vực trong nội bộ doanh nghiệp tạo ra, bao gồm: máy móc thiết bị (Machine), nguyên vật liệu (Material), nguồn nhân lực (Man), tài chính (Money), quảng bá tiếp thị (Maketing), tổ chức quản lý (Management). Bên cạnh đó, lợi thế cạnh tranh còn chịu sự tác động gián tiếp bởi cơ hội và nguy cơ do môi trường bên ngoài tác động vào như chính sách quốc gia.
Vậy khả năng cạnh tranh mạnh, yếu là do kết quả của lợi thế cạnh tranh, mà lợi thế cạnh tranh chịu sự tác động bởi hai nguồn lực trên.Vậy lợi thế cạnh tranh chính là cốt lõi làm tăng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thể hiện qua mô hình 3C: Khách hàng (Customer) Coâng ty Ñoái thuû caïnh tranh (Companies) (Competitors) Lôïi theá caïnh h Hình 1.1: Vị thế cạnh tranh Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh hay yếu thì doanh nghiệp đó phải có lợi thế cạnh tranh nhiều hay ít. 6 Toå chöùc Nguoàn Hieäu quaû Chieán lôïi theá vaø Löôï caïnh t h Naêng suaát Hình 1.2: Moái lieân heä logic Do đó, chúng ta có thể thấy các nguồn về lợi thế cạnh tranh có mối liên hệ mật thiết với chiến lược, tổ chức và năng suất của công ty.