CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Những vấn đề cơ bản của Công ty Chứng khoán 1. Khái niệm và đặc điểm của Công ty Chứng khoán Công ty chứng khoán là tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán nhằm mục đích sinh lợi bằng cách thực hiện một hoặc một số dịch vụ chứng khoán.
Tại Việt Nam, Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật CTCK. Ủy Ban Chứng Khoán nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán. Giấy phép này đồng thời cũng là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tùy theo quy mô vốn điều lệ và đăng kí kinh doanh mà công ty được thực hiện một, một số hay toàn bộ các hoạt động: môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán… Hiện nay trên thế giới tồn tại các đặc điểm về mô hình tổ chức của công ty, cụ thể là hai mô hình tổ chức công ty chứng khoán: mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh.
Mô hình công ty đa năng: Theo mô hình này các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình CTCK đa năng chia thành 2 loại: Loại đa năng một phần: Các ngân hàng khi tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty độc lập hoạt động tách rời. Các công ty con ít khi nắm giữ cổ phần của ngân hàng và thường không có sự kết hợp giữa các công ty bảo hiểm và ngân hàng. Mô hình này thường được áp dụng ở Anh và một số nước có quan hệ gần gũi như Canada, Australia.
Loại đa năng toàn phần: Các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ. Mô hình hoạt động được mô tả trong khuôn khổ này không phân biệt giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động giao dịch chứng khoán. Trong một thực thể pháp lý duy nhất, các ngân hàng thương mại cung cấp một loạt các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm toàn diện. Cách tiếp cận này, được gọi là ngân hàng đa năng truyền thống, thường được sử dụng ở Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ và các quốc gia khác ở Bắc Âu.
Mô hình công ty chứng khoán đa năng có ưu điểm là kết hợp được nhiều lĩnh vực kinh doanh nên sẽ giảm thiểu bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, tận dụng được 1 Thư viện ĐH Thăng Long các lợi thế về vốn, kinh nghiệm và chuyên môn trong KDCK. Tuy nhiên, với mô hình này thì các ngân hàng có thể sẽ lợi dụng những ưu thế của mình để lũng đoạn thị trường. Mô hình công ty chuyên doanh: Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình công ty chứng khoán đa năng, giảm rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho chuyên môn hóa, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Ngày nay với sự phát triển của thị trường chứng khoán, để tận dụng thế mạnh của lĩnh vực tiền tệ và lĩnh vực chứng khoán, các quốc gia có xu hướng nới lỏng ngăn cách giữa hoạt động tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép hình thành mô hình công ty đa năng 1 phần, các NHTM thành lập công ty con để chuyên kinh doanh chứng khoán. Tại Việt Nam, hiện nay có gần 80 công ty chứng khoán là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán và phần lớn các CTCK tổ chức hoạt động theo mô hình này. Vai trò của công ty chứng khoán Các CTCK có mong muốn tạo ra vốn thông qua việc phát hành chứng khoán, tuy nhiên, họ không thể trực tiếp bán những chứng khoán này. Các nhà đầu tư, thiếu chuyên môn cần thiết và hiểu biết toàn diện về các quy định, cũng gặp khó khăn trong việc giao dịch chứng khoán trên sàn chứng khoán.
Sự hiện diện của nhiều nhà đầu tư càng làm phức tạp thêm vấn đề, dẫn đến sự hỗn loạn tiềm tàng. Để giải quyết những vấn đề này, các công ty chứng khoán đóng vai trò trung gian, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư và cung cấp nhiều hỗ trợ khác cho cả nhà đầu tư và tổ chức phát hành. Vai trò của công ty chứng khoán bao gồm: huy động vốn, hình thành giá chứng khoán, thực thi tính hoán tệ, tư vấn đầu tư và tạo ra một số sản phẩm mới. Vai trò huy động vốn: Công ty chứng khoán là một trong những trung gian tài chính có chức năng huy động vốn.
CTCK có vai trò làm cầu nối và là kênh dẫn cho vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn. CTCK thường đảm nhận vai trò này thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán. Vai trò hình thành giá cả chứng khoán: Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán cho tổ chức phát hành, CTCK thực hiện vai trò hình thành giá cả thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. 2 Trên thị trường thứ cấp, dù là thị trường đấu lệnh hay đấu giá, công ty chứng khoán luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác giá trị các khoản đầu tư của mình.
CTCK còn có chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giá cả chứng khoán trên thị trường. Các CTCK bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng cao. Vai trò thực thi tính hoán tệ của chứng khoán: Các nhà đầu tư luôn muốn có khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Các CTCK đảm nhận chức năng này, giúp nhà đầu tư ít phải chịu thiệt hại nhất khi đầu tư.
Trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở Sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung, nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển đổi từ tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình. Có thể có một số nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư nhưng giá trị đầu tư nói chung không giảm đi do cơ chế giao dịch của thị trường. Vai trò thực hiện tư vấn đầu tư: Các CTCK không chỉ thực hiện yêu cầu của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp thông tin cho các công ty và cá nhân đầu tư. Dịch vụ tư vấn có thể gồm thu thập thông tin phục vụ cho mục đích của khách hàng, cung cấp thông tin về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng ngắn hạn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai, cung cấp thông tin về chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc.
Nguyên tắc hoạt động của Công ty chứng khoán Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các CTCK dựa trên 2 nhóm nguyên tắc cơ bản với các vai trò cụ thể là nguyên tắc tài chính và nguyên tắc đạo đức. Nguyên tắc tài chính: Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới quy định rất chặt chẽ về vấn đề tài chính đối với các CTCK, thông thường các CTCK phải đảm bảo các tiêu chí về mức vốn hoạt động. Vốn của CTCK nhiều hay ít phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ, loại tài sản này lại được quyết định bởi loại hình nghiệp vụ thực hiện. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 155/2020/NĐ – CP quy định chi tiết về việc thi hành một số điều Luật chứng khoán năm 2019, vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài tại Việt Nam.
Cụ thể: 3 Thư viện ĐH Thăng Long Bảng 1. Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của CTCK Môi giới chứng khoán 25 tỷ VNĐ Tự doanh chứng khoán 50 tỷ VNĐ Bảo lãnh phát hành chứng khoán 165 tỷ VNĐ Tư vấn đầu tư chứng khoán 10 tỷ VNĐ (Nguồn: Luật chứng khoán năm 2019) Công ty chứng khoán phải duy trì các tỷ lệ an toàn tài chính, bảo đảm khả năng thanh khoản và tuân thủ quy định có liên quan tại Luật Chứng khoán, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn. Việc đảm bảo an toàn tài chính được thực hiện thông qua các hình thức gồm: Mua bảo hiểm nghề nghiệp hoặc trích lập Quỹ bảo vệ nhà đầu tư/ Quỹ dự phòng rủi ro và đền bù tổn thất theo quy định; Trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán; Trích lập dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính dài hạn; Trích lập quỹ dự phòng tài chính và rủi ro nghiệp vụ; Trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi theo quy định đối với CTCK. Nguyên tắc đạo đức: Đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh chứng khoán là tập hợp những chuẩn mực, cách cư xử, và ứng xử trong nghề nghiệp kinh doanh chứng khoán nhằm bảo vệ, tăng cường vai trò, tính tin cậy của nghề kinh doanh chứng khoán.
Đạo đức trong hoạt động kinh doanh chứng khoán đòi hỏi sự minh bạch và trung thực trong tất cả các giao dịch và hoạt động tài chính. Công ty cần cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ cho khách hàng, giúp họ đưa ra quyết định đầu tư một cách thông tin và có trách nhiệm. Phải thận trọng không được tạo ra xung đột lợi ích với khách hàng. Trong trường hợp không thể tránh được, Công ty phải thông báo trước cho khách hàng hoặc áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo đối xử công bằng với khách hàng.
Đảm bảo an toàn và bảo mật thông tin khách hàng là một khía cạnh quan trọng của đạo đức trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.