Giải pháp hiệu quả để tăng cường quản lý thuế trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tăng cường quản lý thuế trên địa bàn huyện na rì tỉnh bắc kạn, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quản lý thuế và vai trò của thuế

Quản lý thuế là nhiệm vụ kinh tế chính trị tổng hợp, liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của Nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân. Thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn lực vật chất cho ngân sách nhà nước (NSNN). Nó đảm bảo nguồn thu thường xuyên và ổn định, đồng thời tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô. Chính sách thuế không chỉ mang lại số thu mà còn góp phần kiểm soát, quản lý và khuyến khích phát triển sản xuất. Thuế còn thực hiện vai trò tái phân phối nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và kiềm chế lạm phát.

1.1. Khái niệm và vai trò của thuế

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Nó là công cụ tập trung nguồn thu chủ yếu cho NSNN, tham gia điều tiết kinh tế vĩ mô, kích thích tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Thuế còn thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và kiềm chế lạm phát.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế

Công tác quản lý thuế chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chính sách thuế, năng lực cán bộ thuế, sự phối hợp của các ngành chức năng và ý thức tuân thủ của người nộp thuế. Cải cách thuếđiều chỉnh thuế là những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

II. Thực trạng quản lý thuế tại huyện Na Rì

Huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, đã thực hiện chuyển đổi công tác quản lý thuế theo hướng hiện đại, dựa trên phương pháp quản lý rủi ro và mở rộng thuế điện tử. Tuy nhiên, công tác quản lý thuế tại đây còn nhiều hạn chế như thiếu kỹ năng chuyên sâu của cán bộ thuế, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin chưa cao, và sự phối hợp chưa tốt giữa các ngành chức năng. Chi cục Thuế Na Rì cần tiếp tục hoàn thiện quy trình quản lý thuế để đạt hiệu quả cao hơn.

2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Na Rì

Huyện Na Rì có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đặc thù, ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế. Các nguồn tài nguyên và hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và khai thác khoáng sản. Điều này đặt ra thách thức trong việc quản lý thuế đối với các đối tượng nộp thuế.

2.2. Thực trạng công tác quản lý thuế

Công tác quản lý thuế tại huyện Na Rì giai đoạn 2015-2017 đạt được một số kết quả như tăng thu ngân sách, nhưng vẫn còn hạn chế về chất lượng quản lý đối tượng nộp thuế và công tác kiểm tra thuế. Cần có giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong thời gian tới.

III. Giải pháp tăng cường quản lý thuế tại huyện Na Rì

Để tăng cường quản lý thuế tại huyện Na Rì, cần thực hiện các giải pháp như nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng và chính quyền, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, nâng cao chất lượng quản lý đối tượng nộp thuế và kiểm tra thuế. Cải cách thuếhiện đại hóa quản lý thuế là những yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu này.

3.1. Nâng cao nhận thức và tuyên truyền

Cần nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền và các cơ quan liên quan về tầm quan trọng của quản lý thuế. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người nộp thuế thực hiện tốt cơ chế tự khai, tự nộp.

3.2. Hiện đại hóa quản lý thuế

Tiếp tục hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý thuế, ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý. Đồng thời, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành thuế.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về thuế 1. Khái niệm và vai trò của thuế 1. Khái niệm về thuế Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt.

Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá. Và với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực nhà nước. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế.

Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp. Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu lên trong cuốn sách "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ, dựa trên cơ sở đối giá như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật". Trong các quan điểm này, người ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của 6 các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mà mình đang kinh doanh hoặc đang sinh sống. Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định lúc đó.

Trong cuốn Giáo trình quản lý thuế - Học viện Tài chính của PGS.Lê Xuân Trường thì: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Vai trò của Thuế - Thuế là công cụ tập trung nguồn thu chủ yếu cho NSNN. Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau như: phát hành thêm tiền; phát hành trái phiếu để vay trong nước và ngoài nước; bán một phần tài sản quốc gia; thu thuế. Trong các hình thức nêu trên thì thuế là công cụ chủ yếu và có vai trò quan trọng nhất.

Vì so với các hình thức huy động khác, sử dụng công cụ thuế có những ưu điểm: + Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn. Đối tượng nộp thuế bao gồm các thể nhân, pháp nhân theo quy định cụ thể của từng Luật thuế. + Phương thức huy động của thuế là sử dụng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc. Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định.

Thông qua thu thuế một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra đã tập trung vào Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng và thực hiện các biện pháp kinh tế - xã hội. + Tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ khác còn thể hiện ở chỗ: thuế kết hợp hài hoà giữa phương pháp cưỡng bức và kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các đối tượng nộp thuế tới chất lượng sản xuất và hiệu quả kinh doanh. 7 Số liệu thống kê trên cho thấy số thu thuế và phí chiếm phần lớn trong tổng thu NSNN và tăng nhanh qua các năm, đảm bảo về cơ bản yêu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của NSNN, giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội, an ninh quốc phòng và giành một phần để tăng tích luỹ. Do vậy có thể khẳng định thuế là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của NSNN.

- Thuế tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô. Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những khuyết tật vốn có của nó. Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô bằng cách đưa ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế - xã hội theo các mục tiêu Nhà nước đã định và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp. Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng nhiều biện pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế là gốc.

Trong các biện pháp kinh tế thì thuế là công cụ quan trọng và sắc bén nhất. Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm của mọi Chính phủ. Sự thành công hay thất bại của việc quản lý Nhà nước, nền kinh tế giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô.

Trong nền kinh tế thị trường, người ta thường xác định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi Chính phủ phải theo đuổi đó là: - Thuế kích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước. Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát 8 triển sản xuất. Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững. - Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cụ. Thông qua thuế Thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội.

Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng như: thuế GTGT, thuế Tiêu thụ đặc biệt. Với những hàng hoá dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt. Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước.

- Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát. Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn.

9 Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng Thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động. - Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối. Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng.

Chính vì vậy nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội. Thuế là một công cụ để nhà nước tác động trực tiếp vào quá trình này. Việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thu thuế tiêu thụ đặc biệt. Các sắc thuế trực thu đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất lũy tiến là sắc thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội.

- Thuế còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất,kinh doanh. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện thu đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, những mặt hàng họ được phép kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp tăng cường quản lý thuế tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn" tập trung vào việc đề xuất các biện pháp hiệu quả nhằm cải thiện công tác quản lý thuế tại địa phương. Nội dung chính bao gồm phân tích thực trạng quản lý thuế, chỉ ra những hạn chế hiện tại, và đưa ra các giải pháp cụ thể như nâng cao năng lực cán bộ, ứng dụng công nghệ thông tin, và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Tài liệu này mang lại lợi ích thiết thực cho độc giả, đặc biệt là những người làm trong lĩnh vực quản lý thuế, bằng cách cung cấp góc nhìn chi tiết và các bước thực hiện có thể áp dụng ngay.

Để hiểu sâu hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý tài chính và thuế, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế tại chi cục thuế khu vực hồng bàng an dương thành phố hải phòng, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng tăng cường công tác quản lý tài chính nội bộ tại kho bạc nhà nước lạng sơn, và Luận án tiến sĩ kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại việt nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp quản lý tài chính hiệu quả.