phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý tài chính doanh nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 Chƣơng 4: Một số giải pháp tăng cƣờng quản lý tài chính tại công ty cổ phần X20 - Tổng cục hậu cần. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý tài chính doanh nghiệp 1. Quản lý Từ điển tiếng Việt ghi rằng “quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”1.
Hiểu theo cách thông thƣờng thì quản lý là “The act of getting people together to accomplish desire goal and objectives” (hoạt động tập hợp và điều khiển mọi ngƣời nhằm đạt đƣợc những mục tiêu hoặc mục đích mong muốn”2. Quản lý tài chính Quản lý tài chính là việc quản lý hiệu quả tiền (quỹ) theo cách để thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Đây là chức năng chuyên ngành trực tiếp liên quan đến việc quản lý hàng đầu. Tầm quan trọng của chức năng này là không chỉ nhìn thấy trong „dây chuyền' mà còn trong khả năng của 'nhân viên' trong quản lý tổng thể của một công ty.
Nó đã đƣợc các chuyên gia khác nhau định nghĩa khác nhau trong lĩnh vực này. Joseph Massie cho rằng "Quản lý tài chính là hoạt động vận hành của một doanh nghiệp có trách nhiệm nhận và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cần thiết cho hoạt động hiệu quả." Weston và Brigham ghi "Quản lý tài chính là một lĩnh vực của việc ra quyết định tài chính, hài hòa động cơ cá nhân và mục tiêu doanh nghiệp." JFBradlery viết "Quản lý tài chính là lĩnh vực quản lý kinh doanh dành cho việc sử dụng đúng đắn vốn và lựa chọn cẩn thận nguồn vốn để cho phép một công ty kinh doanh di chuyển theo hƣớng đạt đƣợc mục tiêu của mình". 1 Nguyễn Nhƣ Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr.com/management/introduction-to-management/principles-of-management/defining- management/ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 Howard và Opton thì cho rằng, "Quản lý tài chính có thể đƣợc định nghĩa là khu vực đó hoặc thiết lập các chức năng quản lý trong một tổ chức mà có liên quan với sự sắp xếp của tiền mặt và tín dụng để tổ chức có thể có phƣơng tiện để thực hiện mục tiêu của mình nhƣ một cách thỏa đáng nhất có thể".
Hay businessdictionary thì nêu rõ, quản lý tài chính là lập kế hoạch, chỉ đạo, giám sát, tổ chức và kiểm soát các nguồn lực tài chính của một tổ chức. Lấy một doanh nghiệp thƣơng mại là cơ cấu tổ chức phổ biến nhất, các mục tiêu quan trọng của quản lý tài chính sẽ là: • Tạo sự giàu có cho doanh nghiệp • Tạo ra tiền mặt, và • Cung cấp một sự trở lại đầy đủ về đầu tƣ mang rủi ro mà các doanh nghiệp đang thực hiện và các nguồn lực đầu tƣ Có ba yếu tố quan trọng đối với quá trình quản lý tài chính: (1) Quản lý Kế hoạch tài chính cần phải đảm bảo rằng tài trợ đủ có sẵn vào đúng thời điểm để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Trong ngắn hạn, tài trợ có thể là cần thiết để đầu tƣ vào thiết bị và cổ phiếu, trả cho nhân viên và doanh số bán hàng đƣợc thực hiện trên quỹ tín dụng. Trong trung và dài hạn, tài trợ có thể đƣợc yêu cầu cho bổ sung đáng kể cho năng lực sản xuất của doanh nghiệp hoặc để thực hiện mua lại.
(2) Kiểm soát tài chính Kiểm soát tài chính là một hoạt động quan trọng để giúp các doanh nghiệp đảm bảo rằng doanh nghiệp đó đạt đƣợc các mục tiêu của nó. Kiểm soát tài chính trả lời câu hỏi: • Tài sản có đƣợc sử dụng hiệu quả? • Các tài sản doanh nghiệp có an toàn? • Hành động quản lý có vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông và phù hợp với các quy tắc kinh doanh? (3) Ra quyết định tài chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 Các khía cạnh quan trọng của việc ra quyết định tài chính liên quan đến đầu tƣ, tài chính và cổ tức: • Đầu tƣ phải đƣợc tài trợ một cách nào đó - tuy nhiên luôn xem xét những lựa chọn thay thế tài chính có thể đƣợc. Ví dụ nhƣ nó có thể nâng cao tài chính từ việc bán cổ phiếu mới, vay từ các ngân hàng hoặc lấy tín dụng từ các nhà cung cấp • Một quyết định tài chính quan trọng là liệu lợi nhuận thu đƣợc của các doanh nghiệp nên đƣợc giữ lại chứ không phải là phân phối cho các cổ đông thông qua cổ tức. Nếu cổ tức quá cao, doanh nghiệp có thể trở nên đói kinh phí để tái đầu tƣ để doanh thu và lợi nhuận ngày càng tăng thêm.
Lập kế hoạch tài chính gồm lập kế hoạch trong ngắn hạn và lập kế hoạch trong dài hạn. Kế hoạch tài chính ngắn hạn là việc lập kế hoạch về lợi nhuận và ngân quỹ công ty trong khi kế hoạch dài hạn thƣờng mang tính chiến lƣợc và liên quan đến việc lập các mục tiêu tăng trƣởng doanh thu và lợi nhuận trong vòng từ 3 đến 5 năm. Kế hoạch tài chính ngắn hạn Các công cụ dùng trong việc lập kế hoạch ngắn hạn thƣờng dùng là: Báo cáo thu nhập chiếu lệ, báo cáo lƣu chuyển tiền tệ, phân tích tình hình ngân quỹ và chiến lƣợc giá cả. Kế hoạch tài chính ngắn hạn nên đƣợc lập theo từng tháng để có đƣợc cái nhìn sát hơn và đƣa ra đƣợc biện pháp nâng cao tình hình tài chính.
Lập kế hoạch tài chính dài hạn hay kế hoạch tài chính chiến lƣợc Vấn đề lập kế hoạch dài hạn theo quy trình sau: Xác lập tốc độ tăng trƣởng mong muốn mà công ty có thể đạt đƣợc; Tính toán mức vốn cần thiết để trang trải các khoản tồn kho, trang thiết bị, nhà xƣởng và nhu cầu nhân sự cần thiết để đạt đƣợc tốc độ tăng doanh thu. Nhà quản trị phải dự tính đƣợc chính xác và kịp thời nhu cầu vốn để có kế hoạch thu hút vốn bên ngoài. Có 2 nguồn vốn trang trải cho nhu cầu vốn để tăng trƣởng là: Lợi nhuận và vay nợ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 Nếu công ty không có đủ vốn để tài trợ cho chƣơng trình mở rộng công việc kinh doanh thông qua tăng tồn kho, đổi mới trang thiết bị và tài sản cố định và tăng chi phí điều hành công ty thì sự phát triển của công ty sẽ bị chậm lại hoặc dừng lại hẳn do công ty không thanh toán đƣợc các khoản nợ đến hạn.
Để tránh tình trạng này, nhà quản trị phải lập kế hoạch tài chính để kiểm soát đƣợc tốc độ tăng trƣởng. Muốn thế phải xác định đƣợc chính xác các nhu cầu của doanh nghiệp trong tƣơng lai bằng cách sử dụng báo cáo thu nhập chiếu lệ trong vòng từ 3 đến 5 năm. Do việc thu hút vốn đầu tƣ và vay nợ mất rất nhiều thời gian nên đòi hỏi nhà quản trị phải dự báo chính xác và kịp thời để tránh tình trạng gián đoạn công việc kinh doanh. Các bước tiến hành lập các kế hoạch tài chính ngắn hạn có hiệu quả: • Xác định mục tiêu cá nhân và sự ảnh hƣởng của mục tiêu cá nhân đến các mục đích tài chính của công ty để có thể điều chỉnh mục tiêu cá nhân cho phù hợp với mục đích của công việc.
• Thiết lập mục tiêu tăng trƣởng, mục tiêu về lợi nhuận trên vốn đầu tƣ và hƣớng mở rộng phát triển doanh nghiệp. Những mục tiêu này phải đƣợc thể hiện bằng các con số cụ thể. Sử dụng kế hoạch tài chính dài hạn để đƣa ra các dự báo về lợi nhuận, doanh số và so sánh với kết quả thực sự đạt đƣợc. • Trong quá trình lập kế hoạch nên tập trung vào các điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp và các yếu tố thuộc môi trƣờng vĩ mô và vi mô có thể ảnh hƣởng đến việc đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra.
Đồng thời phải phát triển các chiến lƣợc dựa trên kết quả phân tích các yếu tố có liên quan (chiến lƣợc giá, tiềm năng về thị trƣờng, cạnh tranh, so sánh chi phí sử dụng vốn đi vay và vốn tự có…) để có thể đƣa ra hƣớng đi đúng đắn nhất cho sự phát triển của công ty. • Chú ý tới nhu cầu về tài chính, nhân lực và nhu cầu về vật chất hạ tầng cần thiết để hoàn thành kế hoạch tài chính bằng cách đƣa ra những dự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 báo về doanh số, chi phí và lợi nhuận không chia cho khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm. • Trau dồi phƣơng pháp điều hành hoạt động doanh nghiệp, nắm bắt các cơ hội về thị trƣờng và phát triển sản phẩm mới để có thể tìm ra biện pháp tốt nhất nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của công ty. • Cập nhật kế hoạch tài chính thông qua các báo cáo tài chính mới nhất của công ty.
Thƣờng xuyên so sánh kết quả tài chính công ty thu đƣợc với các số liệu hoạt động của các công ty trong cùng ngành để biết đƣợc vị trí của công ty trong ngành. Tìm ra và khắc phục điểm yếu của công ty. Không ngại thay đổi kế hoạch tài chính nếu mục tiêu đề ra quá thụ động hoặc vƣợt quá khả năng của công ty. Quản lý vốn sử dụng thực của công ty Vốn sử dụng thực của công ty là chênh lệch giữa tài sản hiện có của công ty và các khoản nợ phải trả, thƣờng đƣợc gọi là vốn lƣu chuyển trong công ty.
Các nhà quản trị phải luôn chú ý đến những thay đổi trong vốn lƣu chuyển, nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi và ảnh hƣởng của sự thay đổi đó đối với tình hình hoạt động của công ty. Khi quản lý nguồn vốn lƣu chuyển trong công ty, hãy xem xét các bộ phận cấu thành sau đây: • Tiền mặt và các khoản tƣơng đƣơng tiền mặt (các loại chứng khoán và tiền gửi ngắn hạn). Khi lập các kế hoạch tài chính bạn phải trả lời đƣợc những câu hỏi liên quan đến tiền mặt nhƣ: Lƣợng tiền mặt của công ty có đáp ứng nhu cầu chi phí không? Mối quan hệ giữa lƣợng tiền thu đƣợc và chi phí nhƣ thể nào?