CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC ĐẢM BẢO AN TOÀN HỒ CHỨA 1.1 Đặc điểm, vai trò, nội dung của của đảm bảo an toàn hồ chứa nước 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm quản lý Hiện nay có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho rằng quản lý là cai trị; cũng có quan niệm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy [1]. Quan niệm chung nhất về quản lý được nhiều người hấp nhận do điều khiển học đưa ra như sau: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tựhóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Quan niệm này không những phù hợp với hệ thống máy móc thiết bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước [2]. Khái niệm quản lý theo nghĩa hẹp (tức là quản lý xã hội) như sau: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý [1].
Quản lý Xã hội là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của người quản lý càng lớn và nội dung quản lý càng phức tạp.2 Khái niệm quản lý nhà nước Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật. Cụ thể như sau: - Nhà nước quản lý toàn dân là nhà nước quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người không phải là công dân. Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộcác lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ.
Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều 5 chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định. -Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh. Vậy Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước [1]. Quản lý xã hội là thực hiện các chức năng tổ chức nhằm tạo những điều kiện cần thiết để đạt những mục đích đềra trong quá trình hoạt động chung của con người trong xã hội.
Vì vậy, từ khi xuất hiện nhà nước, quản lý xã hội được nhà nước đảm nhận. Nhưng, quản lý xã hội không chỉ do nhà nước với tư cách là một tổ chức chính trị đặc biệt thực hiện, mà còn do tất cả các bộ phận khác cấu thành hệ thống chính trị thực hiện như: các chính đảng, tổ chức xã hội,. Ở góc độ hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội, chủ thể quản lý xã hội còn là gia đình, các tổ chức tư nhân. Quản lý nhà nước là các công việc của nhà nước, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước; cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước.
Quản lý nhà nước thực chất là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Chính phủ là hệ thống cơ quan được thành lập để chuyên thực hiện hoạt động quản lý nhà nước.3 Khái niệm hồ chứa nước Hồ là những lòng chảo hoặc vùng trũng của bề mặt trái đất chứa đầy nước và không nối liền với biển (theo định nghĩa của Tse-bô-ta-rôp A.) [3], đôi khi khác với nước chảy (sông) người ta định nghĩa hồ như là những kho nước với dòng chảy tràn hoặc với chế độ trao đổi nước chậm chạp. Mặc dù hồ gặp trong thiên nhiên rất đa dạng song giữa các hồ cũng vẫn có thể chia ra các kiểu có những tính chất giống nhau. Theo đặc điểm của lòng hồ có thể chia ra các kiểu hồ đập, hoặc hồ chắn (ao), hồ lòng chảo và hồ hỗn tạp. 6 Hồ chứa nước cũng được hiểu là "Công trình tích nước và điều tiết dòng chảy nhằm cung cấp nước cho các ngành kinh tế quốc dân, sản xuất điện năng, cắt giảm lũcho vùng hạ lưu v.
Hồ chứa nước bao gồm lòng hồ để chứa nước và các công trình (hay hạng mục công trình) sau: a) Đập chắn nước để tích nước và dâng nước tạo hồ; b) Công trình xả lũ để tháo lượng nước thừa ra khỏi hồ để điều tiết lũvà đảm bảo an toàn cho đập chắn nước; c) Công trình lấy nước ra khỏi hồ để cung cấp nước; d) Công trình quản lý vận hành; e) Theo yêu cầu sử dụng, một số hồ chứa nước có thể có thêm công trình khác như: công trình xả bùn cát, tháo cạn hồ; công trình giao thông thủy (âu thuyền, công trình chuyển tàu, bến cảng,.), giao thông bộ; công trình cho cá đi. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn hồ chứa nước được hiểu chung là công trình được hình thành bởi đập dâng nước và các công trình có liên quan có nhiệm vụ trữ nước, điều tiết dòng chảy, cung cấp nước cho nhu cầu dùng nước và cải thiện môi trường. An toàn đập, hồ chứa nước là việc thực hiện các biện pháp thiết kế, thi công, quản lý, khai thác nhằm bảo đảm an toàn cho đập, hồ chứa nước, các công trình có liên quan, an toàn cho người và tài sản vùng hạ du đập.2 Đặc điểm của hồ chứa nước Hồ chứa nước là một loại hồ nhân tạo, chúng được hình thành do kết quả của việc xây dựng các hồ chứa nước, thủy điện, cải tạo thiên nhiên v. của con người.
Vì hồ được tạo ra dùng cho mục đích trữ nước nên còn được gọi là kho nước. Do có nhiều ưu điểm trong khai thác tổng hợp như vậy nên hồ chứa được xây dựng nhiều trên thế giới cũng như ở nước ta. Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, trong năm chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài 5 đến 6 tháng với tổng lượng mưa chiếm từ 80 đến 85% 7 tổng lượng mưa cả năm, trong 6 đến 7 tháng còn lại của mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15 đến 20%, với dòng chảy trong sông s có mùa lũ và cạn cũng như tỷ lệ phân phối các mùa tương ứng với mùa mưa. Điều đó bắt buộc chúng ta phải xây dựng hồ chứa để điều tiết lượng nước phân bố bất hợp lý đó.
Mặt khác về địa hình địa mạo, ba phần tư diện tích đất liền là vùng đồi núi, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc xây dựng và khai thác các hồ chứa nước, đáp ứng nhu cầu cho các ngành kinh tế quốc dân. Hệ thống hồ chứa nước ở Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi một giai đoạn gắn liền với sự phát triển kinh tế của đất nước khác nhau, các hồ chứa nước có tuổi đời cao nhất là hơn 40 năm, còn hầu hết chỉ từ 10-30 năm trở lại đây. Trước giải phóng việc xây dựng hồ chứa còn ít và mang tính chất địa phương nhỏ lẻ, hồ sơ thiết kế thiếu, thất lạc nhiều. Số hồ chứa xây dựng cho đến 1975 chiếm 33.
Giai đoạn sau giải phóng đến 1985 việc xây dựng hồ chứa khá phát triển do nhu cầu mở rộng sản xuất nông nghiệp. Số hồ xây dựng trong 10 năm này chiếm 36. Giai đoạn từ 1985 đến nay chiếm 30,1%. Như vậy số hồ chứa đưa vào sử dụng trên 10 năm chiếm trên 2/3 tổng số hồ chứa cả nước.
Phân loại hồ chứa - Căn cứ vào tính chất hoặc nhiệm vụ chủ yếu của hồ chia hồ chứa nước ra thành 2 loại: Hồ chứa nước thủy lợi, hồ chứa nước thủy điện - Căn cứ vào nguồn gốc và phương pháp hình thành. Có thể chỉ ra: + Loại hồ do đắp đập ngăn chặn các eo ruộng bậc thang, ngăn các đồi núi hình thành. Loại hồ này có đặc điểm là diện tích nhỏ, độ sâu không lớn, cấu tạo đơn giản (thường có thể gọi là ao). Diện tích từ vài ba hecta đến vài chục hecta.
Tuy diện tích nhỏ nhưng số lượng rất nhiều, phân bố khắp nơi nên nó có ý nghĩa rất lớn trong đời sống của người dân. Ví dụ hồ Thủy Tiên (Thiên An) + Loại hồ chứa hình thành do việc đắp đập ngăn suối mà hình thành. Loại này số lượng cũng khá nhiều và phân bố chủ yếu ở vùng trung du và ở miền núi. Tính chất chủ yếu là phục vụ thủy lợi, một số kiêm phát điện hoặc chuyên phát điện nhưng với qui mô nhỏ.
8 + Loại đắp những suối nhỏ có diện tích từ vài chục tới vài trăm hecta. + Loại đắp những suối lớn hoặc chùm các suối có diện tích đến gần 1000 ha. Ví dụ hồ chứa Suối Hai có diện tích trung bình 750 ha và khi mực nước lên cao nhất đạt 950 ha. + Loại hồ do đắp đập ngăn các con sông nhỏ hình thành.
Loại này số lượng cũng khá nhiều và chủ yếu phân bố ở miền núi hoặc hỗn hợp giữ trung du và miền núi. + Loại hồ do đắp đập ngăn các con sông tương đối lớn hình thành. Thuộc loại này ở Việt Nam có những hồ chứa sau: Hồ Thác Bà (ngăn sông Chảy), Hồ Hòa Bình (ngăn sông Đà), Hồ Trị An (ngăn sông Đồng Nai), Hồ Dầu Tiếng (ngăn sông Sài Gòn),. - Căn cứ vào vị trí địa lý và địa hình vùng ngập: Có thể chia hồ chứa nước ra thành hồ chứa miền núi, trung du và vùng Tây Nguyên - Căn cứ khác: như mức độ dinh dưỡng của nước, vào năng suất nuôi cá.
Đối với các công trình thủy lợi, hồ chứa nước thường được Phân cấp và phân loại như sau: * Phân cấp công trình hồ chứa nước: Công trình hồ chứa nước được phân thành 5 cấp: cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III và cấp IV [4] Bảng 1.