Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Ở ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Một số vấn đề lý luận 1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm và các hình thức cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, có thể kể đến một vài quan điểm nhƣ: Theo bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tƣ dài hạn của cá nhân hay công ty nƣớc này vào nƣớc khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nƣớc ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này [24]. Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (World Trade Organization- WTO) đƣa ra định nghĩa nhƣ sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" [24]. Quỹ tiền tệ thế giới (International Moneytary Fund - IMF), trong Báo cáo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 cán cân thanh toán hàng năm đã đƣa ra định nghĩa về đầu tƣ trực tiếp ngoài nhƣ sau:“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp” (Nguyễn Thị Nhã, 2000), [17]. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and development OECD) cũng đƣa ra định nghĩa về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tƣơng tự nhƣ IMF. Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tƣ nƣớc ngoài.
Theo quan điểm của OECD, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là cá nhân hoặc tổ chức có thể thuộc cơ quan Chính phủ hoặc không thuộc cơ quan Chính phủ đầu tƣ tại nƣớc ngoài. Uỷ ban thƣơng mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), trong Báo cáo đầu tƣ thế giới năm 2003 đã đƣa ra định nghĩa về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau:“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp” [27]. Hoa Kỳ là một trong những nƣớc tiếp nhận đầu tƣ và tiến hành đầu tƣ lớn nhất thế trên thế giới cũng đƣa ra định nghĩa về FDI:“FDI là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài” và Hoa Kỳ coi việc sở hữu đa phần chỉ cần chiếm 10% giá trị của doanh nghiệp nƣớc ngoài. Quan điểm về FDI của Việt Nam theo Luật đầu tƣ năm 2005: “Đầu tư trực tiếp là hình thức bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” [11],có thể hiểu FDI là hình thức nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ vào Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 => thể rút ra định nghĩa về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi”. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là chủ thể quan trọng thành lập nên doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (hay còn gọi là doanh nghiệp FDI). Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là phƣơng tiện, là cách thức để nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp bỏ vốn và tham gia quản lý kinh doanh ở một nƣớc khác. Có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: - Doanh nghiệp FDI là những pháp nhân mới đƣợc thành lập tại nƣớc nhận đầu tƣ.
Trong đó, các đối tác có quốc tịch khác nhau và bên nƣớc ngoài có tỷ lệ góp vốn tối thiểu đủ để trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp [10]. Quan niệm này nhấn mạnh đến vai trò sáng lập của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trong doanh nghiệp FDI. - Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có vốn của bên nƣớc ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nƣớc ngoài (công ty mẹ). Cơ sở sản xuất của doanh nghiệp FDI trong nƣớc sở tại (công ty con) nằm dƣới quyền quản trị toàn bộ (tài sản, sản xuất, kỹ thuật, xuất nhập khẩu, sử dụng lao động…) của chủ đầu tƣ nhƣng phải tuân thủ luật pháp và tuân thủ những điều kiện đã thỏa thuận và ký kết với những cơ quan quyền lực của nƣớc sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu đƣợc lợi ích cho tất cả các bên.
- Theo các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân hoặc không có tƣ cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sở hữu từ 10% trở lên số cổ phần thƣờng hay quyền bỏ phiếu (đối với doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân) hoặc tƣơng đƣơng (đối với doanh nghiệp không có tƣ cách pháp nhân). Qua các khái niệm trên có thể hiểu: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (hay còn gọi là doanh nghiệp FDI) là một hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó có một bên hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế”. Bản chất và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Muốn quản lý các doanh nghiệp FDI hiệu quả cần hiểu rõ bản chất, đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này: - Bản chất của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận thông qua di chuyển vốn (bằng tiền và tài sản, công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tư nước ngoài) từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư. Nhà đầu tƣ ở đây bao gồm tổ chức hay cá nhân chỉ mong muốn đầu tƣ khi cho rằng khoản đầu tƣ đó có thể đem lại lợi ích hoặc lợi nhuận cho họ.
Đây là một trong những đặc điểm cơ bản nhất và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành hoạt động FDI giữa các quốc gia. Doanh nghiệp FDI có một số đặc điểm sau: - Doanh nghiệp FDI là những tổ chức kinh doanh có yếu tố quốc tế, chủ yếu đƣợc thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, thuộc một phần sở hữu nƣớc ngoài (doanh nghiệp liên doanh) hoặc thuộc toàn bộ sở hữu nƣớc ngoài (doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài). Quá trình thành lập và vận hành của doanh nghiệp FDI luôn có sự cộng đồng trách nhiệm của các bên, đại diện cho lợi ích của các quốc gia khác nhau và đƣợc các bên lấy phƣơng châm “cùng có lợi” làm nguyên tắc cơ bản để giải quyết các vấn đề trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp; - Doanh nghiệp FDI có sự tham gia quản lý trực tiếp của nƣớc ngoài, quyền quản lý của các bên phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp là những pháp nhân Việt Nam, ra đời và hoạt động theo luật pháp của Nhà nƣớc Việt Nam, đồng thời chịu sự chi phối của nhiều hệ thống pháp luật (bao gồm luật pháp quốc gia xuất thân của các bên và luật pháp quốc tế); - Xu hƣớng của doanh nghiệp FDI bao giờ cũng coi lợi nhuận là mục tiêu duy nhất hàng đầu; trong khi đó, nƣớc chủ nhà lại quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đến sự phát triển tổng thể nền kinh tế.
Do vậy, quản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phải có sự hợp tác chặt chẽ để dung hòa đƣợc hai lợi ích này. - Doanh nghiệp FDI hoạt động trong thời hạn nhất định do Chính phủ nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam quyết định với từng dự án, thƣờng không quá 50 năm, trƣờng hợp đặc biệt có thể dài hơn nhƣng tối đa không quá 70 năm. - Thông qua hợp tác đầu tƣ, doanh nghiệp FDI là nơi gặp gỡ và cọ xát giữa các nền văn hoá khác nhau thể hiện qua triết lý kinh doanh, tập quán, sự hiểu biết pháp luật, ngôn ngữ, lối sống, thói quen, lòng tin, thái độ, phong cách ứng xử của các bên tham gia. Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp FDI tƣơng đối phức tạp, nhiều khi mang sắc thái chính trị, tôn giáo rõ rệt gây khó khăn cho nƣớc nhận đầu tƣ đòi hỏi Việt Nam phải chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết để tham gia kinh doanh với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài một cách bình đẳng và đảm bảo hiệu quả, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro.
Doanh nghiệp FDI hoạt động dƣới sự điều hành của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp trƣớc Hội đồng quản trị. Các cơ quan quản lý nhà nƣớc của Việt Nam chỉ thực hiện chức năng quản lý về mặt Nhà nƣớc đối với các hoạt động của loại hình doanh nghiệp này.