CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ CÔNG 1.1 Một số khái niệm về đầu tư và đầu tư công 1.1 Khái niệm đầu tư Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó. [5] Người bỏ ra một số lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư. Chủ đầu tư có thể là các tổ chức, cá nhân và cũng có thể là nhà nước. Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và độ rủi ro của công cuộc đầu tư.
Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu mọi hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội thì ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất – xã hội phát triển. Qua hai đặc trưng trên cho thấy, rõ ràng mục đích của hoạt động đầu tư là lợi nhuận.
Vì thế, cần hiểu rằng bất kỳ sự chi phí nào về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào đó mà không có mục đích thu lợi nhuận thì không thuộc về khái niệm về đầu tư. Nếu phân loại đầu tư theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, thì có thể chia làm hai loại đầu tư: 5 “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Đứng trên góc độ của toàn nền kinh tế, vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tưtrong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Đầu tư nước ngoàilà việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư. Hay nói cách khác: đầu tư là hoạt động sử dụng tài nguyên cho mục đích sản xuất - kinh doanh hoặc sinh lợi.2 Khái niệm đầu tư công Đầu tư công là Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 ngày 13/6/2019[6]. Hoạt động đầu tư công bao gồm lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch, dự án đầu tư công; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; nghiệm thu, bàn giao chương trình, quyết toán dự án đầu tư công; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công.
Vốn đầu tư công quy định tại Điều 4, Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 ngày 13/6/2019 gồm: vốn ngân sách Nhà nước; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật. Kế đến là các hạng mục đầu tư công thường là phục vụ cho mục đích tạo ra các công trình công sở, kết cấu hạ tầng hoặc trực tiếp tạo ra các hàng hóa công cộng phục vụ cho xã hội nói chung. Như vậy, đầu tư công là bộ phận không thể thiếu của hoạt động đầu tư 6 nói chung, là động lực quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của quốc gia thông qua việc phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội, hỗ trợ hoạt động cho tất cả các thành phần kinh tế. Về mặt tài chính, đầu tư công là một trong những chi tiêu quan trọng nhất của Chính phủ.
Đầu tư công thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của xã hội. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, với mức độ phát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực đầu tư công cũng như chính sách quản lý hình thức đầu tư này có những đặc điểm riêng biệt. Đầu tư công là khái niệm có thể có nhiều quan niệm khác nhau tùy theo giới hạn và góc độ tiếp cận của khái niệm. Chẳng hạn, nếu xét theo nguồn vốn đầu tư thì bất kỳ khoản đầu tư nào, đầu tư vào đâu với mục đích gì đều là đầu tư công nếu một phần quan trọng nguồn vốn đầu tư là của Nhà nước, tức là của chung, không của riêng cá nhân hoặc pháp nhân nào.
Song nếu xét theo mục đích đầu tư thì đầu tư công lại được hiểu là chỉ bao gồm đầu tư vào những chương trình, dự án phục vụ lợi ích công cộng, không có mục đích thu lợi nhuận. Đối với Việt Nam, sau một thời gian thực hiện đầu tư công theo cơ chế thị trường, quan niệm về đầu tư công đã được thể chế hóa trong Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 và Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14. Theo Điều 4, Luật Đầu tư công 2014/QH13: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cầu hạ tầng kinh tế, xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”.[7] Theo Điều 4, Luật Đầu tư công 39/2019/QH14: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định”. Đầu tư công trên thực tế là một quá trình phức tạp với nhiều khâu, với sự tham gia hoạt động của nhiều chủ thể.
Do đó, để đảm bảo hiệu quả của đầu tư công, để đạt được mục tiêu tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất, rất cần có sự quản lý phù hợp, đặc biệt là từ phía Nhà nước với tư cách là chủ thể sở hữu nguồn vốn cũng như đại diện cho lợi ích của xã hội của đầu tư công. Theo Điều 5, Luật Đầu tư công 39/2019/QH14 ngày 13/6/2019 thì các lĩnh vực đầu tư công gồm: Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. 7 Trường hợp thật sự cần thiết tách riêng việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập, đối với dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định; đối với dự án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ, HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định theo thẩm quyền. Việc tách riêng dự án độc lập được thực hiện khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A; Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Đầu tư và hỗ trợ hoạt động đầu tư cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phúc lợi xã hội; Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư; Đầu tư phục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch; Cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; hỗ trợ đầu tư cho các đối tượng chính sách khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Đối tượng đầu tư công 1. Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Trường hợp thật sự cần thiết tách riêng việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập, đối với dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định; đối với dự án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ, HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định theo thẩm quyền. Việc tách riêng dự án độc lập được thực hiện khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A.
Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Đầu tư và hỗ trợ hoạt động đầu tư cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phúc lợi xã hội. Đầu tư của nhà nước tham gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư. Đầu tư phục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch.
Cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; hỗ trợ đầu tư cho các đối tượng chính sách khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Phân loại dự án đầu tư công Có thể phân loại dự án đầu tư công theo các tiêu chí phân loại khác nhau. Theo tính chất đầu tư của dự án, đầu tư công được phân loại thành: (a) Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; (b) Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác không quy định tại điểm a khoản này. Còn căn cứ mức độ quan trọng và quy mô, dự án đầu tư công được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo tiêu chí quy định tại [6] được phân loại thành 4 loại.2 Vai trò, đặc điểm và QLNN về đầu tư công 1.1 Vai trò, đặc điểm của đầu tư đối với nền kinh tế 1.1 Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế Một là, đầu tư là yếu tố quan trọng của tổng cầu, có tác động mạnh tới tổng cung của nền kinh tế.