Chương 1:Những vấn đề chung về quản lý bảo hiểm tiền gửi tại các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý bảo hiểm tiền gửi tại các Ngân hàng nước ngoài tại Lào thực tiễn tại Ngân hàng Lào Việt. Chương 3: Định hướng và một số giải pháp tăng cường công tác quản lý bảo hiểm tiền gửi với các Ngân hàng nước ngoài tại Lào. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề chung về BHTG 1. Khái niệm chung về BHTG Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi: Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm đến người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán. Theo Nghị định BHTG năm 2017 của BHTG Lào, bảo hiểm tiền gửi (BHTG) được định nghĩa là: “BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”. Ngoài ra cũng có thể hiểu: Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ chi trả tiền gửi được bảo hiểm cộng với tiền lăi nhập gốc cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền.
Tổ chức tham gia BHTG: Là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi. Khi tham gia BHTG, các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức đó bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động. 7 Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm: Là khách hàng có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích lũy trong một hạn mức chi trả tiền gửi, có thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi tùy theo chính sách của mỗi quốc gia.
Đặc điểm của BHTG - BHTG là loại nghiệp vụ bảo hiểm phi thương mại, tính phi thương mại của BHTG thể hiện ở chỗ: hoạt động BHTG không nhằm mục tiêu sinh lời mà nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, thực hiện những mục tiêu xã hội, vì mục đích của cộng đồng. Ở một số nước, BHTG là loại nghiệp vụ bảo hiểm mang tính thương mại, thực hiện theo nguyên tắc hạch toán. Chẳng hạn ở Đức, quỹ BHTG do Hiệp hội ngân hàng thương mại Đức tổ chức. Nó được thành lập, hoạt động như là một tổ chức phi Chính phủ nhằm tạo ra tính liên kết, tương trợ giữa các ngân hàng hội viên nhằm bảo đảm an toàn cho cả hệ thống.
Các hội viên đóng góp tiền theo quy định vào quỹ bảo hiểm. Khi quỹ tạm thời nhàn rỗi, số tiền trong quỹ sẽ được tận dụng một cách hợp pháp để tạo khả năng sinh lời. Quỹ bảo hiểm lập ra nhằm hai mục đích là phòng ngừa các rủi ro bằng cách quỹ giúp đỡ các thành viên khi gặp khó khăn về khả năng thanh toán và để thanh toán cho khách hàng khi ngân hàng là thành viên bị phá sản - Chủ thể tham gia BHTG chỉ có thể là tổ chức tài chính có nhận tiền gửi của cộng đồng dưới các hình thức nhất định. Với hệ thống BHTG công khai thì sự tham gia của tổ chức này là bắt buộc nhằm tạo sân chơi bình đẳng giữa các tổ chức này, tạo nguồn vốn hoạt động cho tổ chức BHTG.
- Phí BHTG là khoản phí do pháp luật quy định, các bên tham gia quan hệ BHTG không thể thoả thuận về mức phí. 8 Theo Thông tư 0140/2012/TT-BHTG của BHTG Lào quy định: “Tổ chức tham gia BHTG phải nộp phí BHTG theo mức 0,14%/năm cho Đồng Lào và 0,05% đồng ngoại tệ (chỉ Đô la Mỹ và Baht Thái) tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG”. Như vậy theo quy định này, mức phí BHTG đã được pháp luật ấn định sẵn là 0,14%/năm cho Đồng Lào và 0,05% đồng ngoại tệ (chỉ Đô la Mỹ và Baht Thái) tính trên số dư tiền gửi, các chủ thể tham gia quan hệ BHTG (tổ chức nhận BHTG, tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền) không được quyền thoả thuận mức phí bảo hiểm. - Đối tượng được bảo hiểm của BHTG rất đặc biệt, đó là nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền gửi của tổ chức nhận tiền gửi đối với người gửi tiền.
Người nộp phí BHTG tách rời người thụ hưởng bảo hiểm. Có thể nói rủi ro tiền gửi có mối liên quan mật thiết với hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi. Việc xác định loại tiền gửi nào được bảo hiểm là cơ sở tính phí BHTG định kỳ, phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia. Vai trò của BHTG An toàn trong kinh doanh là yêu cầu bức thiết đối với hoạt động của các TCTD.
Do hoạt động của các TCTD là hoạt động kinh doanh có độ rủi ro cao, hậu quả của rủi ro mang tính phản ứng dây chuyền; vì vậy ở các quốc gia hoạt động tín dụng được đặt trong một hành lang pháp lý chặt chẽ với những điều khoản đặc biệt, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro. Ở Lào hiện nay, hoạt động của các TCTD được điều chỉnh bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD ngày 07/12/2018. Luật các TCTD quy định như sau: “TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các TCTD và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng” “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân 9 hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.” Theo những quy định này, cho thấy TCTD là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng. Vậy nội dung hoạt động chủ yếu của TCTD là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Qua nội dung hoạt động chủ yếu này, cho thấy các TCTD luôn có 2 tư cách vừa là “chủ nợ” xong lại vừa là “người đi vay”. Với tư cách chủ nợ họ thường đặt ra cho khách hàng những yêu cầu nhằm đảm bảo cho các khoản vay, vì vậy khách hàng muốn vay tiền tại các TCTD thì đều phải có tài sản đảm bảo hay nói cách khác các TCTD luôn tìm cách “nắm đằng chuôi” trong các giao dịch cho vay. Vì vậy khi đến hạn khách hàng không trả được nợ họ sẽ áp dụng một loạt các biện pháp như: sử dụng lãi suất nợ quá hạn cao hơn mức lãi suất cho vay, thậm trí xử lí tài sản đảm bảo của khách hàng để thu hồi vốn. Xong với tư cách là “người đi vay” thì các TCTD chỉ có một đảm bảo duy nhất đối với khách hàng là uy tín của mình.
Vậy khi TCTD hoạt động không hiệu quả bị giải thể,phá sản thì những người gửi tiền có được trả lại số tiền đã gửi hay không? Bởi họ là những “chủ nợ” không có bảo đảm nên theo thứ tự chi trả khi TCTD bị phá sản thì họ sẽ là những người cuối cùng được thanh toán sau khi đã thanh toán hết cho các “chủ nợ” có bảo đảm của TCTD, và như thế những người gửi tiền có thể chỉ nhận được một ít hoặc thậm trí là mất trắng số tiền họ đã tiết kiệm, giành dụm để gửi vào ngân hàng. Do tâm lý như vậy, chỉ cần một tác động hay một thông tin nhỏ, họ sẽ rút số tiền đã gửi tại ngân hàng đồng loạt, và như vậy các ngân hàng lại dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, nguy cơ đổ vỡ là khó tránh khỏi. Ngoài ra, mục đích huy động một số lượng lớn vốn nhàn rỗi trong dân cư của các ngân hàng cũng không đạt được. 10 Chính vì điều đó mà đặt ra vấn đề là phải tìm một giải pháp, một biện pháp tối ưu, an toàn để vừa tạo ra được niềm tin cho người gửi tiền – yếu tố quan trọng – vừa là một biện pháp để giúp cho các TCTD huy động được nhiều hơn lượng tiền nhàn rỗi vốn được xem là lớn trong dân cư, qua đó giúp cho nền kinh tế quốc gia được ổn định.
Mô hình BHTG trên thế giới lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ vào năm 1934, sau những vụ vỡ nợ ngân hàng hàng loạt vào những năm 1930 – 1933. BHTG được thành lập như một cơ quan thực hiện việc bảo hiểm đối với hoạt động ngân hàng. BHTG tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng vào ngành ngân hàng thông qua việc bảo hiểm có mức độ đối với tiền gửi của công chúng trong hệ thống ngân hàng. BHTG là sản phẩm của nền kinh tế thị trường và chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường.
Vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính là luôn gắn liền với yếu tố niềm tin và mang tính nhạy cảm, lan truyền cao. Mặc dù mỗi quốc gia có mô hình tổ chức BHTG khác nhau nhưng bản chất hoạt động BHTG đều hướng tới mục tiêu chung. BHTG trước hết là vì mục tiêu bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Khi có ngân hàng hay TCTD nào đó bị phá sản, nếu ngân hàng đó tham gia vào cơ chế BHTG hoặc được Chính phủ tuyên bố chi trả BHTG thì những người gửi tiền tại ngân hàng phá sản đó có cơ hội được trả một phần hay toàn bộ số tiền gửi của mình.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là BHTG sẽ làm cho tâm lý của người gửi tiền không bị hoang mang, mất lòng tin và người ta sẽ không nghĩ đến việc phải vội vã rút tiền từ các ngân hàng, điều đó tránh được sự đổ vỡ mang tính dây chuyền có thể xảy ra đối với hệ thống ngân hàng.