phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai e 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. KHÁI QUÁT VỀ CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm về ngân sách nhà nƣớc và chi ngân sách nhà nƣớc NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [11]. Từ định nghĩa trên có thể thấy Luật NSNN chú trọng đến các vấn đề lớn khi đề cập về khái niệm NSNN.
Một là, tính cụ thể của NSNN biểu hiện ở: “Toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước”, tức là nội dung của NSNN bao gồm hai yếu tố thu và chi. Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, lệ phí; Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật; Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi NSNN bao gồm các khoản Chi đầu tư phát triển; Chi dự trữ quốc gia; Chi thường xuyên; Chi trả nợ lãi; Chi viện trợ; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Hai là, phải được “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định”, ở nước ta là chính quyền nhà nước các cấp.
e 8 Ba là, thời hạn thực hiện NSNN được tính trong một năm. Như vậy mỗi năm sẽ có một dự toán ngân sách khác nhau. Bốn là, thực hiện NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, ở đây nói về khía cạnh vai trò Ngân sách là công cụ của Nhà nước khi xây dựng và chấp hành ngân sách. Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của Nhà nước trong từng công việc cụ thể.
[16] Chi NSNN bao gồm nhiều khoản chi khác nhau tùy theo cách phân loại. Theo lĩnh vực hoạt động, chi NSNN bao gồm: chi quản lý hành chính, chi đầu tư XDCB, chi cho y tế, chi cho giáo dục, chi cho bảo trợ xã hội, chi cho an ninh quốc phòng…; theo mục đích chi tiêu, chi NSNN bao gồm chi tích lũy, chi tiêu dùng; theo thời hạn tác động của các khoản chi, chi NSNN bao gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư XDCB và chi khác (như chi cho vay, trả nợ, viện trợ. Chính phủ dự toán các nguồn thu vào quỹ ngân sách Nhà nước, đồng thời dự toán các khoản phải chi cho các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng. từ quỹ ngân sách Nhà nước và bảng dự toán này phải được Quốc hội phê chuẩn.
Vì vậy, đặc trưng chủ yếu của ngân sách Nhà nước là tính dự toán các khoản thu - chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoản thời gian nhất định. Theo quan điểm của tác giả chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Thực chất chi ngân sách Nhà nước chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của Nhà nước. Khái niệm, đặc điểm đầu tƣ xây dựng cơ bản Khái niệm: Theo nghĩa rộng, đầu tư có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực bỏ ra theo những phân tích nhà đầu tư kỳ vọng trước đó.
[2] Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó. Theo Luật Đầu tư (2005) của Việt Nam: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. [10] Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ nhằm phát triển cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản: Chi đầu tư XDCB chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn chi đầu tư phát triển của NSNN, do đó chi đầu tư XDCB mang những đặc điểm như sau: [10] - Đầu tư XDCB là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư: Vì vậy, trong quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn hợp lý đồng thời phải có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn, chống lãng phí nguồn lực.
- Đầu tư XDCB có tính chất lâu dài, thời gian đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động: Nhiều e 10 công trình đầu tư có thời gian kéo dài hàng chục năm. Do vốn lớn nằm đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư XDCB. - Đầu tư XDCB có tính chất cố định: Các thành quả của hoạt động đầu tư XDCB là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư. Vì vậy, cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với kế hoạch, quy hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ.
- Đầu tư XDCB được tiến hành trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế - xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh nên sản phẩm XDCB có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng và được diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chi đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng ngân sách nhà nƣớc Khái niệm chi đầu tư xây dựng cơ bản: Luật NSNN số 83/2015/QH13 thông qua ngày 25/6/2015: “Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của Ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” [11]. Thực chất, chi đầu tư XDCB của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định e 11 nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế quốc dân. Đặc điểm chi đầu tư xây dựng cơ bản: Chi đầu tư XDCB là một bộ phận quan trọng trong tổng chi NSNN.
Đây là khoản chi từ NSNN nhằm đầu tư phát triển tài sản cố định, như kết cấu hạ tầng kinh tế đầu tư tài sản cố định trong các doanh nghiệp nhà nước, các công trình kiến trúc…Chi đầu tư XDCB từ NSNN có một số đặc điểm sau đây: [2] - Chi đầu tư XDCB được thực hiện theo đúng nguyên tắc, quy định của pháp luật hiện hành, từ huy động nguồn lực cho chi đầu tư, điều kiện chi, quy trình kiểm soát, thanh toán… - Chi NSNN cho đầu tư XDCB là khoản chi rất lớn. Hơn nữa, các khoản chi này bao quát hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội với những khác biệt khá lớn. Điều đó cho thấy tính chất phức tạp của chi NSNN cho đầu tư XDCB. - Nguồn vốn chi cho đầu tư XDCB rất đa dạng, được phân chia thành nhiều nguồn, gồm vốn trong nước, vốn ngoài nước.
Trong đó lại được chia ra vốn XDCB tập trung, vốn đầu tư chương trình mục tiêu, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư,… Nguồn vốn ngân sách lại bao gồm vốn ngân sách cấp phát không hoàn lại và ngân sách cho vay ưu đãi,… - Chi đầu tư là khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn định. Chi đầu tư là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trước hết chi đầu tư nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất của nền kinh tế; đó chính là nền tảng bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đồng thời chi đầu tư còn có ý nghĩa là vốn mới để tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội e 12 theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ.